HỒI KẾT CÁC CUỘC CHIẾN VIỆT NAM-IRAQ-AFGHANISTAN

ĐẾ QUỐC HOA KỲ

Nếu các cuộc chiến của Hoa Kỳ trong Vùng Trung Đông Nới Rộng có ngày kết thúc, chúng ta có thể tin chắc đó sẽ là những kết thúc trong thất bại. Và đó cũng không phải là lần đầu.  “Saigon-sụp-đổ” ngày 30-4-1975 là  hồi kết tuyệt đối thỏa đáng, đối với cả đôi bên thắng và thua. Tuy nhiên, điều kỳ lạ là người Mỹ đã tìm được phương thức chuyển biến thành một kết cục hoàn toàn khác: một cuộc xâm lăng tàn bạo và thất bại của Hoa Kỳ đã trở thành một cuộc hành quân giải cứu mang tính nhân đạo. Các câu chuyện cuối cùng của người Mỹ ở Việt Nam được phổ biến rộng rãi đã chôn vùi một lịch sử chiến tranh lâu dài ghê rợn trước khi chấm dứt; và thay vào  đó, người Mỹ đã tự chước miễn khỏi trách nhiệm đã sáng tạo ra tai họa. Họ có thể nghĩ đây là những quà tặng an ủi cho những thiện chí và cử chỉ anh hùng cuối cùng của chính họ.

Bí quyết, trong thực tế, là tách hành động cuối khỏi vỡ tuồng. Đã hẳn, hồi cuối của cuộc chiến Việt Nam không phải là một điểm kết thúc tốt đẹp, chí ít cũng đối với nhiều người Mỹ và các đồng minh Nam Việt Nam của họ.

Trong tuần rồi, Việt Nam đã tổ chức trọng thể lễ kỷ niệm thứ 40 những ngày cuối của cuộc chiến.  Một lần nữa, rất nhiều người chắc chắn đã hồi tưởng những hình ảnh bàng hoàng và hoảng loan của dân tỵ nạn, những nỗ lực di tản trong tuyệt vọng, và thất bại cuối cùng.

Nhưng ngay cả câu chuyện buồn thảm đó cũng có thể đem lại một bài học cho những ai một ngày nào đó hồi tưởng lại các cuộc chiến tai họa mới của người Mỹ trong vùng Trung Đông Nới Rộng hiện nay. Vứt bỏ bối cảnh lịch sử và họ vẫn có thể tái trình diễn bất cứ sứ mệnh nào của Hoa Kỳ, dù là sai lầm, vụng về, như những nỗ lực đáng ca ngợi,  nếu không phải là cao thượng,  nhất là đối với những nhân vật đóng vai thiện nguyện ứng cứu các nạn nhân ngây thơ vô tội.

Đã hẳn, trong trường hợp Việt Nam cách đây bốn thập kỷ, sự ứng cứu đã không trọn vẹn, và thất bại đã mang tính toàn bộ, đến độ nhiều người Mỹ đã phải kết luận: Hoa Kỳ đã dẹp bỏ chính nghĩa,  bỏ rơi và phản bội đồng minh của chính mình. Tuy nhiên, chỉ cần chú tâm vào hồi kết bi thảm, người Mỹ ít ra cũng đã có thể tạm thời tránh được nhiều băn khoăn với các tội phạm lớn lao, với các căn nguyên sai lầm, với kích cỡ và  phương cách tiến hành cuộc chiến quá vô nhân đạo.

Đây là phương cách để họ có thể cảm thấy nhẹ nhỏm hơn về vai trò khởi động và tiến hành các cuộc chiến tai họa, xấu xa, tàn bạo của chính mình: phải cầm chắc rút hết quân đội khỏi hiện trường một thời gian đủ dài để kịp thu dọn tươm tất trước ngày tan hàng cuối. Với phương cách nầy, trong hành động chót, người Mỹ có thể giàn dựng một màn  trở lại gấp rút với sứ mệnh ứng cứu ít bị chê trách hơn. Thay vì phát động một cuộc chiến chống trỗi dậy tàn bạo để giúp các chính quyền đáng khinh rẻ, quân đội Hoa Kỳ có thể tập trung vào nỗ lực mang tính nhân đạo, ngay cả một số đông dân chúng  và quân nhân Mỹ, dù đang mỏi mệt vì chiến tranh, vẫn có thể chấp nhận dễ dàng hơn: di tản và tẩu thoát.

CHUNG CUỘC GIẢ TẠO VÀ CHUNG CUỘC THỰC SỰ

Một tổng thống Mỹ loan báo chấm dứt trong danh dự cuộc chiến lâu dài nhất của Hoa Kỳ. Các quân nhân cuối cùng đã về Mỹ. Đại diện các kênh truyền thông đóng cửa các văn phòng trong xứ có chiến tranh. Một xứ sở xa xôi —  nơi cuộc chiến đã từng  đồng nghĩa với tàn sát đã diễn ra — biến khỏi màn hình vô tuyến và tâm thức công chúng. Quan tâm đã được chuyển qua các câu chuyện xấu xa và giật gân trên mặt trận quốc nội.  Đó cũng là những gì đã diễn ra ở Hoa Kỳ trong các năm 1973 và 1974, những năm khi hầu hết người Mỹ đã tin tưởng một cách sai lầm cuộc chiến Việt Nam đã chấm dứt.

Trong nhiều phương cách khá kỳ lạ, đây cũng có thể là câu chuyện của thời buổi hiện nay ở  chính Hoa Kỳ. Xét cho cùng, cách đây vài năm, họ đã có lý do để hy vọng các cuộc chiến hình như không có dứt điểm của họ  — lần nầy ở Iraq và Afghanistan xa xôi — cuối cùng cũng đã chấm dứt hay sẽ sớm chấm dứt.

Trong tháng 12-2011, đứng trước các quân nhân Hoa Kỳ ở Fort Bragg, North Carolina, Tổng Thống Obama đã tuyên bố một dứt điểm của cuộc chiến của Mỹ ở Iraq. Obama đã hãnh diện cho biết :”Chúng ta đã để lại phía sau một Iraq đầy đủ chủ quyền, ổn định, và tự lập. Đây là một thành đạt kỳ diệu.” Trong cùng phương cách, trong tháng 12-2014, tổng thống cũng đã loan báo “ở Afghanistan, cuộc chiến dài nhất trong lịch sử Hoa Kỳ đang đi đến một kết thúc có trách nhiệm.”[1]

Trong thực tế, chiến tranh, xung đột, và khổ đau đủ loại vẫn tiếp tục trong cả hai xứ, cùng lúc đang lan tràn trong vùng Trung Đông Nới Rộng. Quân đội Hoa Kỳ vẫn phải chịu nhiều thương vong ở Afghanistan, và ở Iraq giới quân sự Hoa Kỳ đang quay trở lại, một lần nữa bỏ bom và cố vấn quân sự, lần nầy chống lại Nhà Nước Hồi Giáo [Islamic State hay IS], một phó sản hay nhánh cực đoan của al-Qaeda — một tổ chức chỉ xuất hiện như hệ quả [hay phản ứng] đối với cuộc xâm lăng và chiếm đóng của Hoa Kỳ trước đó. Riêng đối với IS hiện nay, ác mộng chiến tranh ở Iraq và Afghanistan, đã bắt đầu từ nhiều thập kỷ, rất có thể sẽ đơn thuần kéo dài khó thấy được chung cuộc.

Cuộc chiến Việt Nam, dài lâu như thế, cuối cùng cũng đã có một kết thúc quyết định. Khi Việt Nam trở lại với các tin tức hàng đầu trên báo chí vào đầu năm 1975, 14 sư đoàn quân Bắc Việt đã tràn vào Sài Gòn, hầu như chẳng gặp phải một sức kháng cự nào. Hàng chục nghìn quân nhân  Nam Việt Nam [hình ảnh của quân đội Iraq trong năm 2014] đã cởi bỏ quân phục, vũ khí, trang bị của Hoa Kỳ, để thoát thân. Vắng bóng  lực lượng quân sự khổng lồ của Hoa Kỳ, những gì trước đây có lần đã là một bế tắc tàn bạo, giờ đây đang trở thành một tháo chạy tán loạn — một bằng chứng đáng kinh ngạc:  kế hoạch xây dựng một quốc gia Nam Việt Nam của quân đội Hoa Kỳ đã hoàn toàn thất bại [không mấy khác ở Iraq và Afghanistan trong thế kỷ XXI].

Vào ngày 30-4-1975, một xe thiết giáp Cộng Sản đã cán sập cổng chính vào Dinh Độc Lập ở Sài Gòn, thủ đô Nam Việt Nam, một thắng lợi hay kết thúc bi hài của cuộc kháng chiến kéo dài 30 năm giành độc lập và tái thống nhất đất nước. Nỗ lực đẫm máu của Hoa Kỳ xây dựng một quốc gia phi-Cộng-Sản vĩnh viễn gọi là Nam Việt Nam đã hoàn toàn thất bại trong nhục nhã.

Ngày nay, thật khó lòng có thể tưởng tượng một kết thúc tuyệt đỉnh như thế ở Iraq và Afghanistan. Khác với Việt Nam, nơi Cộng Sản đã thành công huy động tinh thần ái quốc và cách mạng nhiệt thành trên khắp đất nước, không một phe phái, một đảng, hay chính quyền nào ở Iraq hay Afghanistan có được một thành công hay sức hấp dẫn có thể đưa đến khả năng hoàn toàn kiểm soát xứ sở  không bị một ai tranh cãi như thế.

Tuy vậy, ở  Iraq, ít ra cũng đã có một chuổi di tản và dịch chuyển dân chúng tương tự như những ngày cuối ở Việt Nam. Trong thực tế, toàn vùng, kể cả Syria, hiện đang chìm ngập trong một khủng hoảng nghiêm trọng với hàng triệu dân tỵ nạn tìm đến các nơi an toàn xuyên qua biên giới các quốc gia trong vùng và hàng triệu dân vô gia cư đang tìm nơi tái định cư ngay bên trong mỗi nước.

Tháng 8-2014, lực lượng Hoa Kỳ đã trở lại Iraq [như ở Việt Nam bốn thập kỷ trước đây] cũng với  sứ mệnh “nhân đạo.” Khoảng 40.000 người Iraq thuộc giáo phái Yazidi, đối diện với nguy cơ thảm sát, đã sống vất vưỡng trên Mount Sinjar phía Bắc Iraq, bao vây bởi các chiến binh Islamic State. Trong lúc hầu hết những người Yazidi, trong thực tế, đã được các chiến binh Kurdish di tản thành công theo các đường mòn trên đất liền, những nhóm nhỏ đã được quân nhân Iraq với sự trợ giúp của người Mỹ di tản bằng trực thăng. Khi một trong số các trực thăng lâm nạn gây thương tích cho nhiều hành khách, chỉ một mình viên phi công, Tướng Majid Ahmed Saadi, đã phải thiệt mạng. Alissa Rubin, phóng viên báo New York Times, người đã bị thương trong tai nạn, đã ngợi khen tinh thần anh hùng của Saadi. Trước khi nhắm mắt, viên phi công đã nói với Alissa “các phi vụ di tản là điều quan trọng nhất anh đã làm trong đời, là sứ mệnh có ý nghĩa nhất anh đã làm trong cuộc đời phi công 35 năm của anh.”[2]

Trong cách nầy, một lịch sử bị xuyên tạc là điều không thể quan niệm nếu không có cuộc xâm lăng của Hoa Kỳ trong năm 2003 và của gần một thập kỷ các hành vi cực đoan, kể cả tra tấn và ngược đãi ở nhà tù Abu Ghraib, cũng như cuộc chiến chống trỗi dậy, cuối cùng cũng đã đem lại được một câu chuyện anh hùng: can thiệp vì lý do nhân đạo của Hoa Kỳ, để ứng cứu các nạn nhân của các thành phần cực đoan quá khích. Mô hình của loại câu chuyện như thế đã được thiết kế kỷ lưỡng trong năm 1975 ở Việt Nam.

SỤP ĐỔ CỦA NAM VIỆT NAM VÀ BỐI CẢNH LỊCH SỬ

Thất bại ở Việt Nam có thể đã là cơ hội để tính sổ toàn bộ cuộc chiến khủng khiếp, nhưng người Mỹ lại thích các câu chuyện vớt vát chút ít đạo đức Hoa Kỳ trong vụ đổ vỡ. Ví dụ đáng chú ý nhất gần đây là cuốn phim tài liệu được đề cử giải thưởng Academy Award 2014:  “Những Ngày Cuối Ở Việt Nam” [Last Days in Vietnam].

Phim tập trung vào một số người Mỹ và vài người Việt —  những người, qua các hành động trái với mệnh lệnh, đã giúp xúc tiến nhanh chóng và mở rộng nỗ lực di tản muộn màng và thiếu thích đáng số người Việt đã hợp tác chặt chẽ với các mục tiêu của Mỹ.

Các diễn viên giữ các vai anh hùng mang tính nhân đạo cảm thấy có trách nhiệm thực thi  sứ mệnh tiếp cứu được sắp đặt trước vì lẽ đại sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn, Graham Martin, đã từ chối tin rằng thất bại là điều không thể tránh. Mỗi khi các phụ tá van xin ông khởi động chương trình di tản, Martin đã luôn trả lời: “Tình hình không ảm đạm đến thế. Tôi sẽ không nói chuyện tiêu cực như thế nầy.”[3]

Chỉ khi xe thiết giáp Bắc Việt đã đến ngay tận ngoại ô Sài Gòn, Martin mới ra lệnh khởi động “Operation Frequent Wind” [Cuộc Hành Quân Gió Thường Xuyên].

Vào lúc đó, Đại Úy Bộ Binh Stuart Herrington và vài người khác theo ông, cũng đã hướng dẫn “cuộc hành quân đen” bí mật [secret “black ops”] giúp các sĩ quan Nam Việt Nam và gia đình lên phi cơ và tàu chiến thoát khỏi Sài Gòn. Trước khi ra lệnh di tản chính thức, chính quyền Mỹ đã minh thị cấm di tản các quân nhân Nam Việt Nam — họ đã được lệnh phải ở lại bên trong xứ sở và tiếp tục chiến đấu. Tuy nhiên, như Herrington đã nói trong phim, “đôi khi có một vấn đề không phải hợp pháp hay bất hợp pháp, mà là đúng và sai.”[4]

Mặc dù chiến tranh tự nó không dự liệu cho phép quân nhân Mỹ hành động vì lý do “đạo đức bắt buộc”, “Last Days in Vietnam” đã đem lại cơ hội. Những “nhân vật tiếp cứu anh hùng trong phim” đã sẵn sàng chấp nhận bất trắc nghề nghiệp, với lý do chính đáng: di tản đồng minh.

Bi kịch và nguy cơ đã được phóng đại vì đạo diễn phim khăng khăng nhấn mạnh: tính mạng của tất cả các người Việt Nam liên hệ với người Mỹ đều lâm nguy. Vài nhân chứng viện dẫn bóng ma “biển máu” của Cộng Sản, một sản phẩm chủ yếu của guồng máy tuyên truyền chủ chiến từ thập kỷ 1960.

Chẳng hạn, Tổng Thống Richard Nixon đã có lần cảnh cáo: Cộng Sản có thể tàn sát “hàng triệu” thường dân nếu Hoa Kỳ rút quân.

Herrington đã gọi các quan chức Nam Việt Nam ông ta giúp di tản như những “tử thi đang đi” — “dead men walking.” Một người Mỹ anh hùng tiếp cứu khác, Paul Jacobs, mặc dù  không được phép,  đã sử dụng tàu hải quân để hộ tống hàng tá tàu thuyền Nam Việt Nam, với khoảng 30.000 người tỵ nạn, đến Philippines. Trong phim, Jacobs đã tuyên bố, nếu lúc đó ông đã ra lệnh các tàu thuyền nầy trở về Việt Nam, Cộng Sản “có thể đã giết sạch.”[5]

Mặc dù vì nhiều lý do, nhất là ngăn ngừa rối loạn và vãn hồi an ninh trật tự, chính-quyền-Cộng-Sản-chiến-thắng, trong thực tế, cũng đã gửi hàng trăm nghìn người vào các trại cải tạo cũng như đã đối xử với họ khá khắt khe. Tuy nhiên, nạn “tắm máu tiên đoán” hay “tàn sát có hệ thống” một số người đã cộng tác chặt chẽ với người Mỹ cũng chỉ là sản phẩm của guồng máy tuyên truyền hoặc điều bịa đặt trong trí tưởng tượng của người Mỹ.

Theo đúng kịch bản trong guồng máy tuyên truyền thời chiến của Hoa Kỳ, “Last Days in Vietnam” ám chỉ:  Nam Việt Nam luôn “hăng say chống Cộng”. Để minh họa, phim đã đưa ra tấm bản đồ trong đó Bắc Việt Nam với mầu đỏ đang tràn xuống miền Nam toàn mầu trắng —  hàm ý: cuộc chiến là một cuộc xâm lăng của Cộng Sản từ miền Bắc,  thay vì một cuộc kháng chiến toàn quốc đã bắt đầu từ miền Nam chống lại một chính quyền do Mỹ dựng lên và yểm trợ.

Trong thực tế, nếu dân miền Nam luôn đoàn kết và hăng say chống Cộng, cuộc chiến rất có thể đã có một thành quả hoàn toàn khác, nhưng chế độ Sài Gòn, trong cơ bản, có quá nhiều nhược điểm vì lẽ đa số dân chúng miền Nam đã kháng chiến kịch liệt để đánh bại, và phàn lớn người miền Nam đã không sẵn sàng hy sinh, để bảo vệ, chế độ.

Sự thật,  phần lớn các vùng nông thôn ở miền Nam vốn đã mang sẵn “mầu đỏ” ngay từ thập kỷ 1940.  Hoa Kỳ thực ra đã làm đủ cách để ngăn chận  các cuộc bầu cử tái thống nhất trong năm 1956, chính là vì lý do: lo ngại dân miền Nam có thể dồn phiếu bầu lãnh tụ Cộng Sản Hồ Chí Minh làm chủ tịch một Việt Nam thống nhất.

Nói rõ ràng hơn, Hoa Kỳ đã phản bội dân tộc Việt Nam và quyền tự quyết của họ với quyết định: nhảy vào, thay vì rút khỏi, Việt Nam.

“Last Days in Vietnam” có thể là câu chuyện tốt đẹp nhất về một Sài Gòn sụp đổ từ trước đến nay, nhưng không phải là câu chuyện đầu tiên. Ngay từ trước tháng tư 1975, khi vài đám đông người Việt hoảng loạn vây quanh tòa đại sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn tìm cách vào được bên trong hay vượt tường rào, các cơ quan truyền thông chờ đợi những câu chuyện sốt dẽo có thể làm giảm bớt chút it nỗi nhức nhối không ngừng từ quang cảnh  hốt hoảng và thất bại.

Họ nghĩ họ đã tìm thấy chút ít an ủi  từ “Operation Babylift”. Một tháng trước khi cuối cùng đã phải ra lệnh di tản khỏi Việt Nam, Đại Sứ Martin đã chấp thuận một đợt không tải hàng nghìn trẻ con mồ côi Nam Việt Nam qua Hoa Kỳ để được người Mỹ nhận làm con nuôi. Mặc dù Martin vẫn kiên quyết từ chối chấp nhận hồi kết đã đến cận kề, ông ta vẫn hy vọng: cảnh các trẻ mồ côi đã được các phụ huynh gốc Mỹ đón nhận nồng nhiệt sẽ có thể khiến Quốc Hội Hoa Kỳ động lòng dành thêm các ngân khoản phụ trội để hỗ trợ chính quyền Nam Việt Nam đang suy sụp.

Bình luận về Operation Babylift, nhà khoa học chính trị chủ chiến “Lucien Pye” đã tuyên bố: “Chúng ta muốn biết chúng ta vẫn tốt, chúng ta vẫn còn khá tử tế tao nhã.”[6]

Mọi chuyện đã không xẩy ra như hoạch định. Chuyến bay đầu tiên đầy trẻ con và nhân viên thiện nguyện đã lâm nạn và tất cả 138 hành khách đều tử vong.

Và trong khi hàng nghìn trẻ con rút cuộc đã đến được Hoa Kỳ, một số khá lớn không phải là trẻ mồ côi. Tại Nam Việt Nam bị chiến tranh tàn phá, một số các bậc phụ huynh đã gửi con vào viện mồ côi nhờ che chở, luôn sẵn sàng đón con em về khi tình hình khả quan và an toàn hơn. Các nhà phê bình đã lên tiếng chỉ trích vụ di tản không mấy khác với hành vi bắt cóc.

Chiến dịch “Operation Babylift” cũng chẳng có chút tác động nào đối với Quốc Hội Hoa Kỳ gửi thêm viện trợ — một điều chẳng có gì đáng ngạc nhiên vì hầu như chẳng có ai ở Hoa Kỳ muốn tiếp tục cuộc chiến. Thực vậy, cảm xúc chung lúc đó chỉ là ngỡ ngàng chấp nhận.  Nhưng vẫn còn một nhu cầu bàng bạc rộng khắp vớt vát đôi chút đạo đức quốc gia trong khi căn nhà bằng giấy đã sụp đổ  và câu chuyện “các trẻ mồ côi,” dù đã  mờ nhạt đến đâu, vẫn còn chút ít lợi ích trong quá trình.

BỐI CẢNH MỘT SÀI GÒN SỤP ĐỔ

Đối với hầu hết người Việt — miền Nam cũng như miền Bắc — hồi kết của cuộc chiến không phải là thời điểm để âu lo hay di tản, mà để vui mừng, tự tin, và hãnh diện. Cuối cùng, chế độ Sài Gòn, do người Mỹ dựng lên và luôn bị nguyền rũa, đã bị lật đổ và Việt Nam đã tái thống nhất. Sau ba thập kỷ bạo loạn và chiến tranh, hòa bình cuối cùng cũng đã trở lại. Miền Nam không nhất quán khi chấp nhận chiến thắng của Cộng Sản như một “giải phóng rõ ràng”, nhưng vẫn còn trải nghiệm quá trình thay đổi sâu rộng và  cay chua trên những đổ nát do người Mỹ mang lại.

Thực vậy, khắp miền Nam và đặc biệt trong vùng nông thôn, hầu hết nhân dân đã xem người Mỹ không như những vị cứu tinh mà như những kẻ gây đau thương, chết chóc, và đổ nát. Và mọi sự đều có đủ  lý do chính đáng. Quân đội Mỹ đã trải thảm bốn triệu tấn bom cũng như thuốc khai quang độc hại lên Nam Việt Nam, trên phần đất họ tự nhận đang ứng cứu, nhưng cuối cùng đã bị biến thành một xứ chịu đựng bom đạn nhiều nhất trong lịch sử. Phần lớn số bom và hỏa lực đã được trải thảm lên đầu người dân bình dị một cách bừa bãi vô nhân đạo. Mặc dù các nhà làm chính sách Hoa Kỳ luôn ba hoa: phải “lấy lòng người dân Việt Nam,”[7] sự nhẫn tâm trong phương cách tiến hành cuộc chiến đã xô đẩy họ vào vòng tay Việt Cộng — phe cách mạng tại địa phương. Quả thật,  người dân đã phải khiếp sợ, nhưng không sợ quân đội Bắc Việt, mà sợ người Mỹ và quân đội Nam Việt Nam “đồng minh” của Mỹ.

Nhiều người tỵ nạn thoát khỏi Việt Nam khi chiến tranh chấm dứt và sau đó, khoảng trên dưới một triệu, không những đã bại trận, họ cũng đã đánh mất nhà cửa, và những trải nghiệm chấn thương của họ cũng không được quyền coi nhẹ. Tuy nhiên, chúng ta cũng cần phải ghi nhớ cảnh đau thương của đại đa số nhân dân Nam Việt Nam lớn lao hơn rất nhiều và đã bị xua đuổi khỏi ruộng đồng đất đai của họ bởi các chính sách thời chiến của Hoa Kỳ. Vì lẽ đa số dân quê miền Nam hậu thuẩn phong trào kháng chiến do Cộng Sản lãnh đạo qua các hành động cung cấp thực phẩm, nơi ẩn trú, tin tức tình báo, và tân binh, giới quân sự Hoa Kỳ đã quyết định phải đập tan cơ sở nông thôn của Việt Cộng. Những gì tiếp theo sau đó là một chuổi dài các biện pháp tái định cư cưỡng bách được thiết kế nhằm chuyển dịch đa số dân quê ra khỏi ruộng đồng và đến tái định cư ở những nơi dễ kiểm soát và dễ  tuyên truyền nhồi sọ.

Con số tỵ nạn nội bộ ước tính bảo thũ nhất theo các chính sách nầy [với tên gọi vô hại như “chương trình ấp chiến lược” hay “Operation Cedar Falls”] là khoảng 5 triệu, nhưng con số thực sự có thể đã lên đến 10 triệu hay hơn nữa trong một xứ chưa đến 20 triệu dân. Tưởng cũng cần phải ghi nhớ, trong những năm đó, quân đội Hoa Kỳ đã liệt kê “số người ‘cải biến’ thành tỵ nạn” [refugees generated] — có nghĩa những người Việt Nam bị cưỡng chế phải từ bỏ ruộng đồng và nơi chôn nhau cắt rốn — như một thước đo “tiến bộ,” [a metric of “progress”] một chỉ dấu sự ủng hộ đối với  phe địch đã thực sự sụt giảm.

Những ký ức tập thể sinh động của người Mỹ luôn hướng về số người Việt Nam tỵ nạn bỏ xứ ra đi vào cuối cuộc chiến.  Đã hẳn,  hiện nay đã không còn dấu vết bất cứ một nhận thức rộng lớn: bằng cách nào người Mỹ đã thiêu rụi, đã đào xới, hay đã thủ tiêu không còn dấu vết, hàng nghìn thôn xóm làng xã, lùa các thành phần sống sót vào các trại tỵ nạn. Và các thôn xóm làng xã bị triệt tiêu lúc đó cũng đã được tuyên bố như “các vùng tác xạ tự do” [free fire zones], nơi người Mỹ có quyền bắn giết bất cứ thứ gì  lay động hay dịch chuyển.

Trong năm 1967, Jim Soula là phi đoàn trưởng trên một trực thăng Chinook khổng lồ. Một trong những sứ mệnh của anh ta là tái định cư cưỡng bách các thôn dân Việt Nam. Đây là loại ký ức bạn sẽ không tìm thấy trong những phim “Miss Saigon”, “Last Days in Vietnam”…, hay trong nhiều loại tài liệu, có thể giúp chúng ta hiểu được cuộc chiến đã chấm dứt trong năm 1975. Đây cũng  không phải là các thứ bạn có thể tìm thấy trong suốt tuần qua trong bất cứ ngẫm nghĩ, trầm ngâm, hay tư duy nào trong giới truyền thông nhân ngày kỷ niệm thứ 40 Thống nhất Việt Nam.

“Trong một cuộc hành quân chúng tôi có nhiệm vụ giải thể một làng quê, chúng tôi đã phải dồn nén khoảng 60 người vào chiếc trực thăng Chinook của tôi. Họ chưa bao giờ đến gần loại máy bay nầy và đã thực sự hốt hoảng, nhưng họ đã bị nhiều người cưỡng bức lùa vào phi cơ với súng M-16. Ngay cả vào lúc đó,  tôi cũng đã cảm nhận bên trong chính tôi sự di dời những người nầy là một thảm trạng thực sự. Tôi chưa bao giờ chở dân tỵ nạn trở vào bên trong. Bao giờ cũng chở ra. Thông thường đôi khi họ cũng có thể tự tìm đường trở lại bên trong các vùng tác xạ tự do. Chúng tôi đã không hiểu tổ tiên của họ đã được chôn cất ở đó,  và sinh sống bên cạnh tổ tiên luôn là điều rất quan trọng  trong văn hóa và tín ngưỡng của họ. Họ đã không có tiếng nói trong những gì đang xẩy ra. Tôi đã có thể thấy nỗi kinh hoàng trên gương mặt của họ. Họ đã đại tiện, tiểu tiện và thật sự kinh hoàng…Thật là điều đáng ghê tởm. Mọi điều tôi đã được dưỡng dục lớn lên để tin tưởng đều trái ngược với những gì tôi đã chứng kiến ở Việt Nam. Lẽ ra chúng ta đã có thể học hỏi được rất nhiều điều từ họ, thay vì chẳng học được gì và đã làm quá nhiều việc tai hại.”[8]

NẾU BAGHDAD SỤP ĐỔ

Thời gian có thể đến, nếu trong thực tế đã chưa đến, khi nhiều người Mỹ sẽ quên,  kiểu Việt Nam, các nhà lãnh đạo của họ đã gửi họ đến cuộc chiến ở Iraq một cách sai lầm, lấy cớ Saddam Hussein chấp hữu các vũ khí tiêu diệt hàng lọat với ý định sử dụng chống lại người Mỹ; ông ta đã có “liên hệ đen tối”với các tên khủng bố al-Qaeda, những tên đã tấn công trong vụ 11/9; cuộc chiến có thể tự tài trợ ; cuộc chiến có thể chỉ kéo dài ít tuần lễ thay vì ít tháng; dân Iraq sẽ chào đón quân đội Mỹ như lực lượng giải phóng; hay người Mỹ có thể xây dựng một Iraq dân chủ như một mô hình trong toàn vùng. Và phải chăng người Mỹ cũng sẽ quên trong quá trình khoảng gần 4.500 quân nhân Mỹ đã tử vong cùng với khoảng 500.000 người Iraq, hàng triệu người Iraq đã phải di tản khỏi nhà cửa và sống lưu vong ngay bên trong Iraq hay bị đẩy ra khỏi xứ, và bởi hầu như bất cứ mực thước nào, xã hội dân sự đã không thể trở lại các mức ổn định và an ninh trước chiến tranh?

Bức tranh cũng không kém phần thê thảm ở Afghanistan. Có cái gì sáng sủa có thể xuất hiện từ các cuộc chiến không có dứt điểm của Hoa Kỳ? Nếu lịch sử là một chỉ dẫn,  chúng ta chắc sẽ có thể  nghĩ đến một cái gì đó.

 

Nguyễn Trường

Irvine, California, U.S.A.

04-5-2015

Chú Thích: Hầu hết dữ liệu sử dụng trong bài viết đã được trích dẫn từ các tác phẩm của Christian G. Appy, Giáo Sư Sử Học thuộc các đại học Harvard, MIT, và University of Massachusetts. Christian Appy là tác giả của ba tác phẩm về Chiến Tranh Việt Nam, kể cả hai cuốn PATRIOTS, THE VIETNAM WAR, Remembered From All Sides; và American Reckoning: The Vietnam War and Our National Identity.

 

[1] In December 2011, in front of U.S. troops at Fort Bragg, North Carolina, President Obama proclaimed an end to the American war in Iraq. “We’re leaving behind a sovereign, stable, and self-reliant Iraq,” he said proudly. “This is an extraordinary achievement.” In a similar fashion, last December the president announced that in Afghanistan “the longest war in American history is coming to a responsible conclusion.”

[2] … the evacuation missions were “the most important thing he had done in his life, the most significant thing he had done in his 35 years of flying.”

[3] “It’s not so bleak. I won’t have this negative talk.”

[4] By that time, Army Captain Stuart Herrington and others like him had already led secret “black ops” missions to help South Vietnamese army officers and their families get aboard outgoing aircraft and ships. Prior to the official evacuation, the U.S. government explicitly forbade the evacuation of South Vietnamese military personnel who were under orders to remain in the country and continue fighting. But, as Herrington puts it in the film, “sometimes there’s an issue not of legal and illegal, but right and wrong.”

[5] Herrington refers to the South Vietnamese officers he helped evacuate as “dead men walking.” Another of the American rescuers, Paul Jacobs, used his Navy ship without authorization to escort dozens of South Vietnamese vessels, crammed with some 30,000 people, to the Philippines. Had he ordered the ships back to Vietnam, he claims in the film, the Communists “woulda killed ‘em all.”

[6] “We want to know we’re still good, we’re still decent.”

[7]  “winning the hearts and minds” of the Vietnamese,

[8] “On one mission where we were depopulating a village we packed about sixty people into my Chinook. They’d never been near this kind of machine and were really scared but they had people forcing them in with M-16s. Even at that time I felt within myself that the forced dislocation of these people was a real tragedy. I never flew refugees back in. It was always out. Quite often they would find their own way back into those free-fire zones. We didn’t understand that their ancestors were buried there, that it was very important to their culture and religion to be with their ancestors. They had no say in what was happening. I could see the terror in their faces. They were defecating and urinating and completely freaked out. It was horrible. Everything I’d been raised to believe in was contrary to what I saw in Vietnam. We might have learned so much from them instead of learning nothing and doing so much damage.”

Advertisements