SIÊU CƯỜNG: THAM VỌNG VÀ THỰC LỰC hay LỰC BẤT TÒNG TÂM

Chỉ cần nhìn quanh thế giới, chúng ta cũng đã thật sự khó lòng để không kết luận: siêu cường Hoa Kỳ đang tuột dốc. Dù ở Âu châu, Á châu, hay Trung Đông, các cường quốc đang lên luôn biểu dương sức mạnh và làm ngơ trước mệnh lệnh của Hoa Thịnh Đốn. Nga từ chối cắt xén hổ trợ dành cho các lực lượng ly khai ở Ukraine; Trung Quốc tiếp tục xây dựng các cơ sở quân sự trong vùng Biển Nam Hải; Saudi Arabia từ chối ủng hộ thỏa ước nguyên tử với Iran do Mỹ môi giới; Nhà Nước Hồi Giáo, Islamic State hay ISIS, từ chối đầu hàng trước không lực Hoa Kỳ.

Siêu cường tuột dốc có thể làm được gì trước các thách thức vừa kể?

Đây không phải là chuyện nhỏ. Trong nhiều thập kỷ, địa vị siêu cường luôn là đặc điểm định hình bản sắc của Hoa Kỳ. Nắm chắc trong tay ưu thế toàn cầu đã bắt đầu ngay từ sau Đệ Nhị Thế Chiến khi Hoa Kỳ đảm nhiệm vai trò đề kháng chủ nghĩa bành trướng của Liên Bang Xô Viết trên khắp thế giới. Địa vị đó đã kéo dài suốt kỷ nguyên Chiến Tranh Lạnh và đã được củng cố sau khi Liên Bang Xô Viết tan rã, khi Hoa Kỳ đã tự đảm nhiệm đối phó với toàn bộ các đe dọa quốc tế mới. Tướng Colin Powell đã nổi tiếng với lời tuyên bố trong những ngày chót của kỷ nguyên Xô Viết, “Chúng ta phải treo tấm biển trước cữa: ‘Siêu Cường Ở Ngay Tại Đây,’ dù cho Xô Viết có làm gì chăng nữa, ngay cả triệt thoái khỏi Đông Âu”[1]

ĐẾ QUỐC GIÀN TRẢI QUÁ MỎNG

Trên bình diện chiến lược, trong kỷ nguyên Chiến Tranh Lạnh, hàng ngũ môi giới quyền lực ở Hoa Thịnh Đốn luôn giả thiết: bao giờ cũng luôn có hai siêu cường triền miên tranh đua giành quyền bá chủ toàn cầu. Tiếp theo sau sự sụp đổ hoàn toàn bất ngờ của Liên Bang Xô Viết, các chiến lược gia Hoa Kỳ đã bắt đầu hình dung một thế giới với chỉ một siêu cường: “siêu cường duy nhất” [sole superpower], còn được biết dưới tên gọi — “La Mã Trên Potomac” [Rome on the Potomac].

Theo góc nhìn mới nầy, chính quyền George H.W. Bush đã sớm chấp nhận một kế hoạch dài hạn nhằm duy trì vĩnh viễn quy chế mới. Được biết dưới tên gọi “Đại Cương Hoạch Định Quốc Phòng cho các Tài Khóa 1994-99” [Defense Planning Guidance for Fiscal Years 1994-99], tài liệu đã loan báo: “Đối tượng đầu tiên của chúng ta là ngăn ngừa sự tái xuất hiện của một quốc gia cạnh tranh mới, hoặc trên lãnh thổ của Liên Bang Xô Viết cũ, hay một xứ nào khác, như một đe dọa cùng kích cỡ với đe dọa bởi Liên Bang Xô Viết trước đây.”[2]

Trong quá trình vận động bầu cử tổng thống năm 1999, con trai của Geoge H.W. Bush, lúc đó đang giữ chức vụ Thống Đốc Texas, đã đưa ra viễn kiến tương tự một “Pax Americana” toàn cầu. George W. Bush đã tuyên bố với các sinh viên sĩ quan tại Citadel in Charleston: “Nếu đắc cử, mục tiêu hàng đầu của tân tổng thống là ‘lợi dụng cơ hội lớn lao, riêng cho rất ít quốc gia trong lịch sử, nới rộng hòa bình hiện nay đến một tương lai dài lâu trên toàn cầu. Một cơ may phóng chiếu ảnh hưởng hòa bình của Mỹ không những trên khắp thế giới, mà còn kéo dài nhiều năm qua thời gian’.”[3]

Đã hẳn, đối với George W. Bush, “kéo dài và mở rộng hòa bình”[extending the peace], trong thực tế, có nghĩa xâm lăng Iraq và khởi động tai họa tàn phá cấp vùng liên tục mãi cho đến ngày nay. Ngay cả sau khi mới phát động, Bush cũng đã không chút nghi ngờ và cũng chẳng mảy may nghi ngờ mãi cho đến ngày nay [mặc dù bài học khôn ngoan hậu nghiệm đã minh chứng như mọi người đều biết]: đây là cái giá phải trả để Hoa Kỳ duy trì quy chế tự tôn “siêu cường duy nhất của thế giới”[the world’s sole superpower].

Vấn đề, như nhiều quan sát viên dòng chính ngày nay đã xác nhận, chiến lược nhằm kéo dài đến bất tận ưu thế toàn cầu của Hoa Kỳ với bất cứ giá nào luôn đưa đến tình trạng sử gia trường Yale, Paul Kennedy, trong tác phẩm kinh điển “The Rise and Fall of the Great Powers [Thành Công và Thất Bại của các Đại Cường], đã gọi một cách khó quên: “giàn trải quá mỏng của đế quốc ” [imperial overstretch]. Như Paul Kennedy đã viết một cách tiền nghiệm trong tác phẩm 1987, điều nầy có thể xẩy ra trong tình huống “tổng số các quyền lợi và nghĩa vụ toàn cầu của Hoa Kỳ là… quá lớn để uy quyền của Mỹ có thể cùng lúc bảo vệ toàn bộ.”[4]

Thực vậy, Hoa Thịnh Đốn hiện nay cảm nhận đang lâm vào vấn nạn tiến thoái lưỡng nan. Tuy nhiên, điều hiếu kỳ là do đâu mà tình trạng “giàn trải quá mỏng” đã nhận chìm nhanh chóng một quốc gia, cách đây mới đúng một thập kỷ, đã được ca tụng như tối-siêu-cường-đầu-tiên-cùa-hành-tinh [the planet’s first ‘hyperpower] — một quy chế còn đáng tán dương hơn cả siêu cường [superpower].

Nhưng đó là tình trạng trước khi các tính toán sai lầm và nhiều bước sai lệch của George W. Bush ở Iraq đã khiến Hoa Kỳ phải trực diện một Trung Đông bị chiến tranh tàn phá với một quân lực kiệt quệ và một ngân khố cạn kiệt.

Cùng lúc, các đại cường cấp vùng như Trung Quốc, Ấn Độ, Nga, Iran, Saudi Arabia, và Turkey, đã vun đắp khả năng kinh tế và quân sự của mình và, nhận thức được sự yếu kém đi kèm với “tình trạng giàn trải quá mỏng của đế quốc” [imperial overstretch], đang khởi động thách thức bá quyền Hoa Kỳ trong nhiều khu vực trên toàn cầu.

Chính quyền Obama đã nỗ lực, bằng cách nầy hay cách khác, đáp ứng trong tất cả các khu vực vừa kể — trong đó phải nói đến Ukraine, Syria, Iraq, Yemen, và Biển Nam Hải — nhưng, trong thực tế, vẫn không đủ khả năng thắng thế ở bất cứ nơi nào.

Tuy nhiên, mặc dù sau nhiều thất bại liên tiếp, không một ai trong giới quyền lực ưu tú ở Hoa Thịnh Đốn — các nghị sĩ Rand Paul và Bernie Sanders là những trường hợp ngoại lệ — cảm nhận được động lực cần từ bỏ vai trò siêu cường duy nhất hay ngay cả lùi bước một cách có ý nghĩa nào đó.

Tổng Thống Obama, người đã ý thức quá rõ ràng các hạn chế chiến lược của Hoa Kỳ, cũng vẫn là nhân vật điễn hình giữ thái độ không sẵn sàng rút lui khỏi viễn kiến ưu việt. Trước các sinh viên sĩ quan tốt nghiệp West Point trong tháng 4-2014, Obama đã tuyên bố: “Hoa Kỳ là, và vẫn luôn là, quốc gia tối cần thiết. Điều đó đã là sự thật trong thế kỷ vừa qua và cũng sẽ là sự thật trong thế kỷ sắp tới”.[5]

Như vậy, làm thế nào để có thể đem lại tính nhất trí hay dung hòa giữa thực tế “giàn trải quá mỏng của siêu cường ” và “khuynh hướng tuột dốc”, trong quyết tâm không nao núng duy trì quyền tối thượng toàn cầu?

Một trong hai phương cách tiếp cận vấn nạn nầy có thể được nghĩ đến như “trò xiếc diễn xuất trên dây kẽm cao” — “a high-wire circus act.” Thực vậy, phương cách đòi hỏi trò tung hứng liên tục giữa khả năng và cam kết của Hoa Kỳ, với số tài nguyên [phần lớn là quân sự] hạn chế, vội vã tung ra một cách tương đối không mấy hiệu quả từ địa phương nầy qua địa phương khác nhằm đáp ứng các cuộc khủng hoảng đang diễn tiến, ngay cả những nỗ lực nhằm tránh né các va chạm ngày một nhiều và nghiêm trọng hơn. Trong thực tế, đây đã là chiến lược chính quyền Hoa Kỳ đã và đang theo đuổi. Chúng ta có thể gọi đó là “Chủ Thuyết Obama”[Obama Doctrine].

Chẳng hạn, sau khi ý thức được Trung Quốc đã lợi dụng “Hoa Kỳ đang vướng víu với Iraq và Afghanistan” để xúc tiến quyền lợi chiến lược của mình ở Đông Nam Á, Obama và các cố vấn hàng đầu đã quyết định giảm thiểu sự hiện diện của Hoa Kỳ ở Trung Đông và dè sẽn tài nguyên để tăng cường sự hiện diện trong khu vực Tây Thái Bình Dương. Khi loan báo quyết định chuyển hoán nầy trong năm 2011 — lúc đầu với tên gọi “chốt Á Châu”, kế đó là “tái cân bằng” — tổng thống Obama đã không hề che đậy hành vi chuyển hoán vừa nói.

Thực vậy, Obama đã tuyên bố trước Nghị Viện Úc trong tháng 11-2011: “Sau một thập kỷ trong đó chúng tôi đã theo đuổi hai cuộc chiến quá tốn kém xương máu và tiền bạc, Hoa Kỳ giờ đây đang dành sự quan tâm của chúng tôi đến tiềm lực lớn lao trong vùng Á Châu-Thái Bình Dương. Trong khi chúng tôi chấm dứt các cuộc chiến hôm nay, tôi đã chỉ thị cho đội ngũ an ninh quốc gia của tôi phải dành ưu tiên hàng đầu cho sự hiện diện và sứ mệnh của chúng tôi ở Á Châu và Thái Bình Dương. Do đó, các giảm thiểu trong số chi tiêu quốc phòng của Hoa Kỳ sẽ không — tôi lặp lại, sẽ không — tác động [phương hại] gì đến Á Châu-Thái Bình Dương.”[6]

Tiếp theo đó, Nhà Nước Hồi Giáo mới [the new Islamic State] đã phát động tấn công ở Iraq trong tháng 6-2014 và đội quân do Hoa Kỳ huấn luyện ở đó đã nhanh chóng sụp đổ và đánh mất bốn thành phố ở phía Bắc. Các vụ hành quyết [chặt đầu] các con tin Mỹ tiếp diễn, cùng với các đe dọa đối với chế độ do Hoa Kỳ hậu thuẩn ở Baghdad. Một lần nữa, Tổng Thống Obama lại đóng chốt — lần nầy đã gửi hàng nghìn cố vấn quân sự và không lực Hoa Kỳ trở lại Iraq, và đặt nền móng cho một xung đột quan trọng khác ở đó.

Cùng lúc, các thành phần Cộng Hòa luôn chỉ trích tổng thống lại lên tiếng, buộc tội Obama đang làm quá ít trong nỗ lực đang thất bại ở Iraq [và Syria]. Họ cũng phê bình Tổng Thống đã không làm đủ để thưc thi chốt Á Châu.

Trong thực tế, trong khi các trò xảo thuật của Tổng Thống không làm ai vừa lòng vẫn tiếp tục ở Iraq và Thái Bình Dương, Obama cũng đã gặp phải nhiều khó khăn tìm kiếm đủ tài nguyên để đối đầu với Vladimir Putin ở Ukraine, với Bashar al-Assad ở Syria, với phiến quân Houthi ở Yemen, và các chiến binh khác nhau đang chiến đấu giành quyền lực ở Libya đang phân hóa, và ở nhiều nơi khác.

CHỦ NGHĨA PHỦ NHẬN

Trước các đe dọa ngày một nhiều, trò xảo thuật hoán chuyển rõ ràng đã chứng tỏ là chiến lược khó trường tồn. Không sớm thì muộn, toàn bộ hệ thống răn đe rồi ra sẽ tan rã. Dù sao, các trò xảo thuật đầy nguy cơ đã chứng tỏ không nguy hại bằng giải pháp chiến lược đối phó với đà tuột dốc của siêu cường ở Hoa Thịnh Đốn — giải pháp đơn thuần phủ nhận thực tế [utter denial].

Đối với những ai tin tưởng ở quan điểm nầy, không phải “vai vế toàn cầu của Hoa Kỳ” mà chính “ý chí của người Mỹ” đã ngày một bị bào mòn — có nghĩa:”thái độ sẵn sàng nói và hành động cứng rắn”. Theo luận cứ nầy, Hoa Thịnh Đốn chỉ cần đơn thuần lớn tiếng hơn, và phô trương các cây gậy lớn lao hơn, mọi thách thức có thể sẽ đơn thuần tan biến.

Đã hẳn, các đe dọa như thế chỉ có thể mang lại hiệu quả khi bạn luôn có sẵn “quyền lực cứng,” sức mạnh đích thực hay thực lực, để hậu thuẩn.

Một trong số những người thích lớn tiếng đe dọa là Nghị Sĩ John McCain, chủ tịch Ủy Ban Quân Lực Thượng Viện, đồng thời cũng là người luôn phê bình Tổng Thống Obama.

Trong tháng 3-2014, McCain đã viết trong mục “op-ed” báo New York Times: “Trong 5 năm, người Mỹ đã được biết ‘làn sóng chiến tranh đang lùi dần,’ chúng ta có thể lùi ra xa thế giới với rất ít tai hại đối với quyền lợi và giá trị của chúng ta. Thực tế nầy đã nuôi dưỡng một nhận thức: Hoa Kỳ đang suy nhược; và đối với những nhân vật như Putin, suy nhược mang tính kích thích.” Theo McCain , phương cách duy nhất để ngăn ngừa lối xử sự gây hấn bởi Nga và các đối thũ khác là phục hồi tính khả tín của Hoa Kỳ như một lãnh đạo của thế giới.”

Điều nầy có nghĩa, trong nhiều việc có thể làm, chúng ta cần gửi vũ khí và trang bị cho dân Ukraine và dân Syria [chống Assad], tăng cường sự hiện diện của NATO ở Đông Âu, đánh bại “thách thức chiến lược rộng lớn hơn của Iran,” và giữ vai trò hùng mạnh hơn [có nghĩa: tăng cường quân đội] trong cuộc chiến chống lại ISIS.[7]

Trên hết, điều nầy còn có nghĩa phải sẵn sàng sử dụng quân lực. McCain đã tuyên bố trong tháng 11-2014, “khi các lãnh đạo thích gây hấn hay các nhân vật cuồng tín thích bạo động đe dọa lý tưởng của chúng ta, quyền lợi của chúng ta, đồng minh của chúng ta, và chính chúng ta, những gì cuối cùng sẽ đem lại thay đổi… là khả năng, tính khả tín, và tầm với toàn cầu của uy quyền cứng của Hoa Kỳ.”[8]

Trong môi trường sôi động đó, cuộc vận động bầu cử tổng thống 2016 chắc chắn sẽ bị áp đảo bởi các lời kêu gọi gia tăng ngân sách quân sự [quốc phòng], một lập trường cứng rắn hơn đối với Mạc Tư Khoa và Bắc Kinh, và bành trướng sự hiện diện quân sự ở Trung Đông. Dù cho lập trường cá nhân của mình ra sao, Hillary Clinton, ứng viên Dân Chủ hiện đang sáng giá, cũng rất có thể sẽ phải tỏ ra cứng rắn hơn hay vồ vập những lập trường tương tự.

Nói một cách khác, bất cứ ai sẽ vào Nhà Trắng trong tháng 1-2017 cũng được chờ đợi sẽ nắm chặt cây gậy lớn lao hơn rất nhiều trên một hành tinh kém ổn định hơn rất nhiều. Vì vậy, mặc dù các can thiệp tai họa trong một thập kỷ rưỡi vừa qua, chúng ta rất có thể sẽ phải chứng kiến ngay cả một chính sách đối ngoại mang tính can thiệp nhiều hơn với một lực đẩy sử dụng giải pháp quân sự lớn lao hơn.

Dù cho một lập trường mang tính gây hấn như vậy lúc khởi đầu có thể mang lại chút ít lý thú cho John McCain và nhóm diều hâu hiếu chiến ngày một đông trong Quốc Hội, lập trường đó chắc chắn sẽ mang lại tai họa trong thực tế. Bất cứ ai tin tưởng có thể vặn ngược kim đồng hồ trở lại năm 2002, khi Hoa Kỳ đang đạt đỉnh điểm của hùng cường và thịnh vượng, và cuộc xâm lăng Iraq chưa xẩy ra và dĩ nhiên chưa mang lại mọi tác động tai họa đối với tài nguyên kinh tế, tài chánh cũng như quân sự của Hoa Kỳ… chắc hẳn đang mang chứng “tư duy điên khùng”– [delusional thinking].

Hơn nữa, Trung Quốc hiện nay đang ngày một hùng cường hơn rất nhiều so với 13 năm trước đây, Nga phần lớn đã phục hồi từ cuộc khủng hoảng Hậu Chiến Tranh Lạnh, Iran đã thay thế Hoa Kỳ như tay chơi ngoại quốc áp đảo ở Iraq, và các cường quốc khác đã thủ đắc tự do hành động lớn lao đáng kể trong một thế giới chưa ổn định.

Trong bối cảnh và trạng huống đó, thái độ hung hăng, đe dọa, và hiếu chiến của Hoa Thịnh Đốn chỉ có thể đưa đến tai họa và tủi nhục.

ĐÃ ĐẾN LÚC PHẢI ĐỐI DIỆN VỚI THỰC TẾ

Câu hỏi cần được đặt ra là siêu cường tuột dốc cần phải làm gì khi đang đối diện với hiện tình đầy khó khăn?

Bất cứ ở đâu, ngoại trừ Hoa Thịnh Đốn, câu trả lời đã khá rõ ràng: Hoa Kỳ cần phải từ bỏ thái độ giả vờ trái ngược với thực trạng của chính mình. Bước đầu tiên trong bất cứ chương trình phục hồi nào của một “đế quốc giàn trải quá mỏng” cũng đòi hỏi phải chấp nhận một sự thật: uy quyền của Hoa Kỳ khá hạn chế và ngự trị toàn cầu là một ý nghĩ kỳ quặc.

Một thực tế hiễn nhiên khác cũng phải được chấp nhận. Dù muốn dù không, Hoa Kỳ cũng đang cùng chung chia sẻ một hành tinh với một nhóm các đại cường — mặc dù không một đại cường nào hùng mạnh như Hoa Kỳ, nhưng vẫn không quá suy nhược để có thể bị bắt nạt bởi đe dọa can thiệp quân sự của Mỹ.

Sau khi đã thấm nhuần một lượng định thực tế hơn về uy quyền của xứ sở, lúc đó Hoa Thịnh Đốn có thể phải quan tâm đứng đắn hơn trong phương cách chung sống với các đại cường — nhất là với Nga, Trung Quốc, và Iran — và quản lý các dị biệt với các quốc gia khác một cách hợp tình hợp lý, hầu tránh khởi động những giông tố tai họa cấp vùng.

Nếu xảo thuật chiến lược và thái độ phủ nhận thực tế không thẩm thấu quá sâu trong đời sống chính trị bên trong “thủ đô chiến tranh” Hoa Thịnh Đốn, chiến lược cần được theo đuổi cũng không đến nỗi quá khó thành đạt như luận cứ của các thành phần diều hâu và hiếu chiến.

Chẳng hạn, trong năm 2010, Christopher Layne, thuộc Trường George H.W. Bush, một phân khoa của Texas A&M, đã lập luận trong “American Conservative”: Hoa Kỳ không còn đủ khả năng duy trì địa vị siêu cường toàn cầu, và thay vì chờ đợi một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng bất thần áp đặt một điều chỉnh cần thiết…nên tự nguyện dịch chuyển địa vị của mình một cách từ tốn trong trật tự.”[9]

Layne và phe nhóm đã phác họa những gì quá trình có thể đòi hỏi: giảm thiểu can thiệp quân sự ở hải ngoại, chế ngự động lực giàn trải các căn cứ quân sự trên hành tinh, giảm thiểu chi tiêu quân sự, tăng cường phối hợp với đồng minh, dành thêm ngân sách chi tiêu quốc nội vào công tác tái xây dựng hạ tầng cơ sở đang ngày một suy sụp của một xã hội chia rẽ, và giảm thiểu hiện diện quân sự ở Trung Đông.

Nhưng để thể hiện bất cứ điều gì trên đây, các nhà làm chính sách Hoa Kỳ trước hết phải từ bỏ kỳ vọng Hoa Kỳ phải duy trì địa vị siêu cường toàn cầu duy nhất — và điều kiện nầy có thể là liều thuốc đắng khó nuốt đối với tâm thức người Mỹ và các hoài vọng chính trị của các ứng viên Cộng Hòa. Và chính tâm thức “từ chối sự thật” nầy rõ ràng đã và sẽ dẫn đến các phiêu lưu quân sự sai lầm ở hải ngoại, và không sớm thì muộn, khi hoàn cảnh đen tối hơn, giới lãnh đạo Hoa Kỳ cuối cùng cũng sẽ phải đối đầu với thực tế.

Nguyễn Trường

Irvine, California, U.S.A.

05-6-2015

[1] “We have to put a shingle outside our door saying, ‘Superpower Lives Here,’ no matter what the Soviets do, even if they evacuate from Eastern Europe.”

[2] “Our first objective is to prevent the re-emergence of a new rival, either on the territory of the former Soviet Union or elsewhere, that poses a threat on the order of that posed formerly by the Soviet Union.”

[3] …“to take advantage of a tremendous opportunity — given few nations in history — to extend the current peace into the far realm of the future. A chance to project America’s peaceful influence not just across the world, but across the years.”

[4] … it would arise from a situation in which “the sum total of the United States’ global interests and obligations is… far larger than the country’s power to defend all of them simultaneously.”

[5] “The United States is and remains the one indispensable nation. That has been true for the century past and it will be true for the century to come.”

[6] “After a decade in which we fought two wars that cost us dearly, in blood and treasure, the United States is turning our attention to the vast potential of the Asia Pacific region,” he told members of the Australian Parliament that November.  “As we end today’s wars, I have directed my national security team to make our presence and mission in the Asia Pacific a top priority.  As a result, reductions in U.S. defense spending will not — I repeat, will not — come at the expense of the Asia Pacific.”

[7] Among the most vocal of those touting this line is Senator John McCain, the chair of the Senate Armed Services Committee and a persistent critic of President Obama. “For five years, Americans have been told that ‘the tide of war is receding,’ that we can pull back from the world at little cost to our interests and values,” he typically wrote in March 2014 in a New York Times op-ed. “This has fed a perception that the United States is weak, and to people like Mr. Putin, weakness is provocative.” The only way to prevent aggressive behavior by Russia and other adversaries, he stated, is “to restore the credibility of the United States as a world leader.” This means, among other things, arming the Ukrainians and anti-Assad Syrians, bolstering the NATO presence in Eastern Europe, combating “the larger strategic challenge that Iran poses,” and playing a “more robust” role (think: more “boots” on more ground) in the war against ISIS.

[8]“For five years, Americans have been told that ‘the tide of war is receding,’ that we can pull back from the world at little cost to our interests and values,” he typically wrote in March 2014 in a New York Times op-ed. “This has fed a perception that the United States is weak, and to people like Mr. Putin, weakness is provocative.” The only way to prevent aggressive behavior by Russia and other adversaries, he stated, is “to restore the credibility of the United States as a world leader.” This means, among other things, arming the Ukrainians and anti-Assad Syrians, bolstering the NATO presence in Eastern Europe, combating “the larger strategic challenge that Iran poses,” and playing a “more robust” role (think: more “boots” on more ground) in the war against ISIS.

Above all, of course, it means a willingness to employ military force. “When aggressive rulers or violent fanatics threaten our ideals, our interests, our allies, and us,” he declared last November, “what ultimately makes the difference… is the capability, credibility, and global reach of American hard power.”

[9] the U.S. could no longer sustain its global superpower status and, “rather than having this adjustment forced upon it suddenly by a major crisis… should get ahead of the curve by shifting its position in a gradual, orderly fashion.”

Advertisements