LÝ THUYẾT HỘI TỤ TRONG MỘT THẾ GIỚI ĐANG DÒ DẪM HƯỚNG ĐI

Thử tưởng tượng một vũ trụ thay thế trong đó hai siêu cường Chiến Tranh Lạnh quan trọng nhất đã tiến hóa và trở thành Nhà Nước Hiệp-Chủng-Quốc-Xô-Viết-Xã-Hội-Chủ-Nghĩa. Chủ thể kết hợp, có lẽ được nối kết bởi một cầu mới trên đất liền trong eo biển Bering, hội tụ các đặc điểm tốt nhất của chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa tập thể. Từ Siberia đến Sioux City, tất cả cùng chung sống trong một “Sweden khổng lồ.”

Mới nghe mơ hồ như một ác mộng đa nghi của một John Bircher hay một giấc mơ lạc quan hoang dại của Bernie Sanders xã hội chủ nghĩa ở Vermont.

Trở về với hai thập kỷ 1960 và 1970, đây là lối nhìn khá quy ước, ít nhất trong giới tư tưởng gia nhiều ảnh hưởng, như kinh tế gia John Kenneth Galbraith, người đã tiên đoán Hoa Kỳ và Liên Bang Xô Viết vào một thời điểm nào đó trong tương lai có thể là một phối trí “thị-trường-dung-hòa-với-hoạch-định” và “hoạch-định-tăng-cường-bởi-thị-trường.”

Cũng như bất cứ một ý niệm hàn lâm nào khác, ý niệm nầy đã không thành sự thật. Hoa Kỳ đã rẽ qua hướng Reaganomics, và Liên Bang Xô Viết rút cuộc đã tan rã.

Chừng đó cũng đã đủ đối với lý thuyết hội tụ [convergence theory] — một lý thuyết không mấy khác “trị liệu pháp bằng sốc điện” [EST] hay “phản ứng hạt nhân lạnh”[cold fusion] — luôn kết thúc như bất cứ ý tưởng lập dị nào khác.

Giờ đây, thử nhìn vào thế giới trong năm 2015: hành tinh hình như đang ở đỉnh cao một hội tụ rõ ràng bất-hài-hòa.

Hãy nhìn những gì đang diễn ra ở Nga, nơi nhà độc tài dân cử đang ngự trị một thị trường tự do định hình bởi guồng máy nhà nước hùng cường. Trong cùng thể loại, một hỗn hợp thị trường Leninist Trung Quốc đem lại một trộn lẫn giữa kinh tế xã hội chủ nghĩa và kinh tế thị trường tự do. Cả hai quốc gia đều đầy dẫy tội phạm, tham nhũng, bất công, và mang tính quân sự. Cả hai đều Phi-Thụy-Điễn.

Các xứ lai ghép như vậy không chỉ sống ở Đông phương. Hungry, một thành viên Liên Hiệp Âu Châu cùng lúc cũng là một xứ nòng cốt theo chủ thuyết tự do hậu Cộng Sản, đang đi theo một hướng hoàn toàn khác kể từ khi đảng Fidesz lên cầm quyền từ năm 2010. Trong tháng 7-2014, thủ tướng Viktor Orban đã tuyên bố không nhìn về Phương Tây để tìm hướng dẫn. Để tồn tại trong một tổ chức kinh tế cạnh tranh toàn cầu, Orban đang tìm cảm hứng từ các uy quyền pha trộn khác nhau, và như vậy, cũng từ những xứ phi-Thụy-Điễn khác của hành tinh: Thổ Nhĩ Kỳ, Singapore, Nga và Trung Quốc. Chủ trương quốc hữu hóa các tích sản của nhà nước trước đây và kiểm soát chặt chẽ đầu tư ngoại quốc, Orban đã hứa hẹn biến Hungary thành một “nhà nước phi-tự-do”[an illiberal state] vừa thách thức các nguyên tắc tự do kinh doanh vừa tập trung quyền lực trong tay lãnh đạo và đảng.

Hoa Kỳ cũng không được miễn nhiễm những khuynh hướng như thế. Nhà nước cũng có thể trở thành khá bất-tự-do trong khi tầm với và uy quyền đã bành trướng trong nhiều phương cách đáng ngạc nhiên. Tuy nhiên, như đang xẩy ra, Gosplan của Mỹ — ủy ban hoạch định nhà nước — đã đến với một danh xưng khác: tập đoàn quân sự-kỹ nghệ- an ninh quốc gia [the military-industrial-homeland-securitycomplex]. Hoa Thịnh Đốn đang chủ trì một hệ thống giám sát toàn hành tinh, một hệ thống đã có thể là niềm ganh tỵ của guồng máy tình báo Cộng Sản trong thế kỷ trước, ngay cả khi đã áp đặt một mô hình kinh tế toàn cầu lên các xứ khác cho phép các đại công ty gạt qua một bên sự cạnh tranh của địa phương. Nếu truyền thống tự do và dân chủ của Mỹ trước đây luôn xem trọng người dân nhỏ bé — quyền của cá nhân, sự thành công của tiểu thương — Hoa Kỳ ngày nay đã trở thành khổng lồ theo phương cách tệ hại nhất.

Các “lý thuyết gia hội tụ” đã tưởng tượng các khía cạnh tốt của chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa cộng sản có thể xuất hiện từ quá trình cạnh tranh tiến hóa Darwinian của Chiến Tranh Lạnh, và kết quả có thể là một thực thể lai ghép dễ thích ứng và nhân bản hơn. Đó là một sai lầm đặc biệt lạc quan [Panglossian error]. Thay vì hình thức tốt đẹp nhất trong tất cả các thế giới, cộng đồng quốc tế hiện nay đang đối diện một hỗn hợp chính trị độc tài, kinh tế cắt cổ, và giám sát “Big Brother.” Chúng ta không chung sống trong cùng một Thụy Điển khổng lồ. Thế giới của chúng ta đang hội tụ trong một phương cách xấu xa hơn rất nhiều. Sau hai chính quyền bảo thũ liên tiếp và một chính đảng ngày một cực hữu ngược đãi dân nhập cư, ngay cả Thụy Điễn hình như cũng đang đi theo chiều hướng xấu xa.

Thực vậy, nếu nhìn lại lịch sử trong suốt 70 năm vừa qua, chúng ta có thể bị thuyết phục: các lý thuyết gia “hội tụ”xét cho cùng đã nhận định đúng. Qua những kích động sôi nổi bởi sự sụp đổ của Bức Tường Bá Linh và các dịch chuyển trong hệ biến hóa đem lại, một “annus mirabilis” — một năm 1989 đáng lưu ý — có thể đã không phải là dứt điểm của một hệ thống và sự toàn thắng của một hệ thống khác, nhưng chỉ là một chuyển tiếp kỳ lạ trong quá trình tiến hóa dài lâu hơn rất nhiều của cả hai.

THÍCH ỨNG VỚI ĐIỀU KIỆN CỦA MÔI TRƯỜNG

Nhân loại cần phải noi gương loài dơi và loài cá voi. Đã hẳn dơi và cá voi không có gì giống nhau. Nhưng cả hai đều sinh sống trong những môi trường tăm tối giống nhau. Dơi săn mồi vào ban đem trong khi cá voi bơi lội trong màn đêm của đại dương. Trong khi cả hai không thể trông cậy vào manh mối thị giác, cả hai phải khai triển khả năng định vị tiếng dội, có nghĩa làn sóng âm thanh, để di chuyển. Chiến lược khéo léo nầy là một ví dụ của tiến hóa hội tụ [convergent evolution]: thích ứng với điều kiện môi trường tương tự.

Vài khoa học gia xã hội trong kỷ nguyên Chiến Tranh Lạnh đã nhìn chủ nghĩa Cộng Sản và Chủ Nghĩa Tư Bản trong cùng một phương cách với các nhà sinh học tiến hóa nhìn loài dơi và loài cá voi. Cả hai hệ thống, trong khi khác nhau về cấu trúc, đều phải đấu tranh để thích ứng với cùng các yếu tố môi trường.

Các lực của hiện đại hóa –phát triển kỹ thuật, nhu cầu thư lại gia tăng– thúc đẩy cả hai hệ thống đi theo cùng chiều hướng tiến hóa. Nhằm thành đạt hiệu quả kinh tế tối hảo, người Cộng Sản ngày một lệ thuộc nhiều hơn vào các cơ chế thị trường, trong khi các nhà tư bản cũng phải cần đến hoạch định. Dân chủ phải nhường ưu tiên cho giới công chức quan liêu khi các kỹ thuật gia không mấy thiết tha với bất cứ hệ ý thức đặc biệt nào điều khiển các quốc gia của cả hai khối trong thế giới hai siêu cường hiện nay đang xa cách nhau. Những gì có thể mất mát trong hậu thuẩn quần chúng có thể được bù đắp trong hiệu quả. Các cấu trúc kết quả của quá trình lai ghép, như định vị tiếng dội âm thanh [echolocation], có thể biểu hiệu các phương cách hành động hữu hiệu nhất trong một môi trường toàn cầu đầy thử thách.

Lý thuyết hội tụ chính thức khởi đầu trong năm 1961 với bài viết ngắn gọn nhưng đầy uy lực bởi Jan Tinbergen. Kinh tế gia Hà Lan đã đưa ra luận cứ: chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa tư bản có thể học hỏi nhau khi tìm cách giải quyết các vấn đề nội bộ qua hành động vay mượn lẫn nhau. Tiếp xúc nhiều hơn giữa hai thù địch có thể dẫn đến một “vòng đạo đức” [virtuous circle] san sẻ và hội tụ nhiều hơn. Lý thuyết đã được tiếp sức mạnh mẽ bởi tác phẩm bestseller 1967 của John Kenneth Galbraith, “The New Industrial State.” Từ đó, ý niệm đã lan tràn ra khỏi ngành kinh tế học và liên minh xuyên Đại Tây Dương. Ý niệm còn được sự ủng hộ của nhiều giới, kể cả nhà vật lý nguyên tử và bất đồng chính kiến Andrei Sakharov trong Liên Bang Xô Viết.

Trong thập kỷ 1970, tình trạng bớt căng thẳng giữa hai siêu cường đã gợi ý các lý thuyết gia hội tụ đã xuất hiện đúng lúc. Các chính sách nhấn mạnh “chung sống hòa bình” [coexistence], được chấp thuận bởi mỗi một trong số các cựu thù không đội trời chung trước đây, và làm dễ dàng bởi các trao đổi khoa học và các thỏa ước kiểm soát vũ khí, hình như đã báo hiệu một thu hẹp các dị biệt. Bên trong Hoa Kỳ, ngay cả các đảng viên Cộng Hòa nòng cốt như Richard Nixon cũng đã bắt đầu chấp nhận các biện pháp kiểm soát công xá và giá cả trong nỗ lực thuần hóa thị trường, trong khi sự ra đời của ngành điều khiển học [cybernetics] đã gợi ý các máy vi tính có thể giúp vượt qua các trở ngại kỹ thuật các quốc gia xã hội chủ nghĩa đã phải đối diện trong công tác cấu tạo các nền kinh tế hoạch định hữu hiệu. Trong thực tế, với dự án Project Cybersyn, một nỗ lực sớm sủa trong thập kỷ 1970 để khai thác điện lực của các bán dẫn nhằm điều hòa cung cầu, chính quyền của tổng thống dân cử Salvador Allende của Chí Lợi đã có kế hoạch du nhập một “technotopia” như thế.

Đã hẳn, Allende đã phải tự vẫn trong cuộc đảo chánh quân sự do Hoa Kỳ bảo trợ. Tình trạng bớt căng thẳng hay thư giản giữa hai siêu cường đã sụp đổ vào cuối thập kỷ 1970, và dưới ảnh hưởng của chủ thuyết Reagan, các quan chức chính quyền Hoa Kỳ đã bắt đầu tháo gỡ chương trình an sinh xã hội. Cùng lúc, Liên Bang Xô Viết, với một lãnh đạo già yếu như Leonid Brezhnev, đã chìm đắm trong khủng hoảng kinh tế, trước khi Mikhail Gorbachev cố gắng một lần chót trong vô vọng duy trì hệ thống qua một chương trình cải cách. Năm 1991, Liên Bang Xô Viết đã tan vỡ và chủ nghĩa tư bản toàn cầu cực đoan đã tuyên bố đắc thắng.

Không có gì đáng ngạc nhiên, vào đầu thập kỷ 1990, vài học giả đã dựng bia ghi nhận những gì đã rõ ràng là một nhận thức ngõ cụt. Lý thuyết hội tụ đã dẫy chết.

CHUNG CUỘC CỦA LỊCH SỬ ĐÃ ĐÁNH MẤT SỨC SỐNG

Ngay khi lý thuyết hội tụ đã mất tính thuyết phục, lý thuyết gia chính trị Francis Fukuyama đã nhanh chóng tái phát minh ý niệm. Mùa hè 1989, với bài xã luận gây tranh cãi “The End of History” [Chung Cuộc của Lịch Sử], tác giả đã tuyên bố sự toàn thắng vĩnh viễn của “dân chủ tự do” [liberal democracy], cùng với hệ thống kinh tế đi kèm, Fukuyama đã tiên đoán vấn đề trung tâm của kỷ nguyên: Phải làm gì để có thể thay thế xung đột ý thức hệ của Chiến Tranh Lạnh?

Vài tháng trước ngày Bức Tường Bá Linh sụp đổ và Cách Mạng Nhung bắt đầu ở Czechoslovakia, Fukuyama đã đưa ra luận cứ: chủ nghĩa Cộng Sản không còn là một thay thế cho dân chủ xã hội, và Liên Hiệp Âu Châu, “nhà nước thuần nhất phổ quát”của Alexandre Kojève, triết gia đàn anh của Fukuyama, cuối cùng đã toàn thắng. Nói một cách khác, chung điểm của tiến hóa chính trị và kinh tế toàn cầu, một lần nữa, là guồng máy chính trị và nhà nước phúc lợi kinh tế mô phỏng theo dân chủ xã hội Âu Châu. Đối với Fukuyama, lý thuyết hội tụ đã trở lại như khuynh hướng tương lai.

Tuy nhiên, những gì trước đây đã đem lại cảm hứng cho các kiến trúc sư hội nhập Âu Châu — và hai tác giả Jan Tinbergen và John Kenneth Galbraith — là một thất vọng trầm trọng đối với Fukuyama, người đã sớm chịu tang cho chủ thuyết anh hùng lấy cảm hứng từ các đối đầu mang tính lịch sử. Fukuyama đã âu lo: xung đột ý thức hệ mang tính định hình Chiến Tranh Lạnh và đem lại ý nghĩa cho những ai đã đấu tranh trong chuổi va chạm quân sự chính trị có thể đã đánh mất cảm hứng và hăng say. Tất cả những gì còn sót lại chỉ là những trao đổi lễ độ những bất đồng nhỏ bé trong nội bộ Brussels. Quả thật đây chính là chung cuộc của lịch sử!

Ngay sau đó, luận thuyết của Fukuyama, được ca tụng ngắn ngũi như chung điểm của mọi ức đoán về số phận toàn cầu, và đã chứng tỏ không đầy đủ khi các ý thức hệ hùng mạnh khác lại trổi dậy thách thức các sắc thái tự do dân chủ nói chung của Tây phương. Như một bắt đầu, những sắc thái căng thẳng quốc gia sắc tộc đã xé nát Nam Tư và tiếp tục cơn thịnh nộ xuyên khắp Liên Bang Xô Viết. Một cách tương tự, trào lưu tôn giáo chính thống, đặc biệt là Hồi Giáo cực đoan, đã thách thức quyền lực cứng, các sắc thái đa văn hóa, ngay cả chính sự hiện hữu của các nhà nước thế tục khác nhau trong khắp vùng Trung Đông và Phi châu. Và từng loạt các con cờ Cộng Sản sụp đổ về hướng Đông đã dừng lại ở Mông Cổ. Trung Quốc, Bắc Hàn, Ai Lao, và Việt Nam, ít ra trên danh nghĩa, đã duy trì được ý thức hệ cầm quyền và các cơ cấu độc đảng của riêng mình.

Cùng lúc, Liên Hiệp Âu Châu đã bành trướng, thu hút tất cả các quốc gia Đông và Trung Âu [ngoại trừ một hay hai quốc gia Balkan nhỏ bé], ngay cả sát nhập các xứ Baltic thuộc Liên Bang Xô Viết trước đây. Hội tụ, theo kiểu Fukuyama, đã diễn ra dưới hình thức hội đủ các điều kiện gia nhập Liên Hiệp Âu Châu, một quá trình dài ngày tái định hình các cơ cấu chính trị, kinh tế, xã hội của các quốc gia ứng viên Đông Âu. Chiến tranh ở Nam Tư sau đó đã chấm dứt, và Âu châu hình như đã tránh được một va chạm sâu xa giữa các nền văn minh. Ngay cả ở Bosnia, chính thống Giáo, Hồi Giáo , và vài nhánh Cơ Đốc Giáo đã thành đạt một phương thức hành động — modus operandi, mặc dù Bosnia vẫn còn xa mới có thể trở thành một chủ thể có thể thực hiện các chức năng hoạt động chuyên nghiệp.

Trong thực tế, Fukuyama đã gợi ý một dạng lý thuyết hội tụ — có thể dưới hình thức thu hút. Trong hình thức mô tả tiến hóa khá tàn nhẫn nầy, Liên Bang Xô Viết đã tìm cách thu hút “tầng lớp vô sản của thế giới phải đoàn kết lại và đẩy chủ nghĩa tư bản đến diệt vong”. Và Liên Bang Xô Viết đã thất bại. Thay vào đó, sự kiện Bức tường Bá Linh sụp đổ và Đức Quốc tái thống nhất đã chứng tỏ các lý thuyết gia tư bản đã thắng. Quá trình thu hút Đông và Trung Âu vào Liên Hiệp Âu Châu [EU] cũng đã diễn ra dưới cùng dạng thức.

Và một lần nữa, những biến cố đó cũng chính là chung cuộc của câu chuyện. EU cũng có thể đã là một dạng thức Thụy Điển pha loãng như các lý thuyết gia hội tụ nguyên thủy đã quan niệm — nói chung khá hòa bình, cũng có thể nói thịnh vượng, và tạm dân chủ. “Ngôi Nhà Chung Âu Châu,” Gorbachev đã đề cập lúc uy tín còn ở đỉnh cao, một ngày nào đó cũng có thể bao gồm ngay cả Nga về phía Đông và đối tác Hoa Kỳ bên kia Đại Tây Dương về phía Tây.

Tuy nhiên, ngày nay, ngôi nhà chung Âu Châu “on the verge of foreclosure” [đang ở bên bờ bị tịch thu thế nợ.] Không phải chỉ vì Nga đã bước theo một hướng hoàn toàn khác hay vì Hoa Kỳ đang lùi bước khỏi ngay cả dạng thức dân chủ xã hội Bắc Âu [Scandinavian] yếu ớt do EU ban hành. Hy Lạp đang chiêm nghiệm một dạng thức trước đây được xem như tà đạo — Grexit hay ra khỏi Eurozone của riêng mình. Rắc rối hơn nữa, ngay tại trung tâm Âu Châu ở Budapest, Viktor Orban đang quay lưng lại với Tây Phương và hướng về Phương Đông, trong khi các đảng phái cánh hữu chống EU, chống nhập cư, đang quyến rũ lôi cuốn đảng viên trong khắp lục địa Âu Châu.

Một trục mới phi-tự-do một ngày nào đó cũng có thể kết nối Bắc Kinh với Mạc Tư Khoa, Hungary, và có thể xa hơn nữa, như một đường cao tốc mới xuyên Tây Bá Lợi Á [a new trans-Siberian express]. Toàn bộ khu vực Âu-Á, chốt địa-chính-trị lịch sử đang chìm dần dưới chế độ chuyên quyền với bộ mặt đại công ty và dân chủ thẩm mỹ.

Và Hungary cũng không phải quốc gia ngoài lề Âu Châu, mặc dù EU đang chế tài các khuynh hướng độc tài của Orban. Các lãnh đạo khác trong vùng, từ Jaroslew Kaczynski bảo thủ ở Ba Lan đến Robert Fico, dân chủ xã hội ở Slovakia, đang nhìn mô hình và thành công chính trị của Orban với ganh tị. Chủ nghĩa hoài nghi của Âu Châu đang lan tràn qua phía Tây, với phe cực hữu sẵn sàng thu hút Đan Mạch, Mặt Trận Quốc Gia đang giành được nhiều ghế nhất trong các cuộc bầu cử nghị viện Âu Châu vừa rồi ở Pháp, và Đảng Bảo Thũ đắc thắng gần đây ở Anh Quốc đang có kế hoạch xúc tiến trưng cầu dân ý về khả năng duy trì tư cách thành viên trong EU.

Nói một cách khác, trò chơi địa-chính-trị cứ “Tiến” đang tiếp tục. Và đúng lúc bạn nghĩ khuynh hướng tự do đang lan tràn thành công từ Đại Tây Dương đến biên giới phía Tây Liên Bang Nga — và dưới ảnh hưởng của lãnh tụ Nga Boris Yeltsin trước đây, có thể đến tận bờ Thái Bình Dương — phe chống tự do đã có vài động thái then chốt bên lề và kết quả đã bắt đầu dịch chuyển có lợi cho họ. Sự gia nhập EU trong năm 2013 của Croatia rất có thể đã là mức nước cao đối với cơ cấu EU. Một khủng hoảng kinh tế ở Hy Lạp, một khủng hoảng chính trị ở Hungary, có thể phối hợp làm tan rã kịch bản lạc quan nhất đối với sự hồi phục của lý thuyết hội tụ.

Với EU trong tiềm năng tan rã, bạn cần phải sẵn sàng đón nhận những gì ít tai hại hơn rất nhiều.

HỘI TỤ KIỂU MỸ

Hoa Kỳ luôn tự hào là một biệt lệ đối với các quy tắc, vì vậy, các lãnh đạo chính trị của Mỹ không phân biệt đảng phái luôn không ngừng nhấn mạnh “nguyên tắc biệt lệ” [exceptionalism] của chính xứ sở của mình. Hoa Kỳ vẫn luôn là siêu cường thực sự duy nhất của thế giới. Người Mỹ luôn từ chối ký kết nhiều thỏa ước quốc tế. Họ tự giành quyền xâm lăng các xứ khác và ngay cả ám sát công dân của chính họ nếu cần. Bằng cách nào một chủ thể duy nhất như vậy có thể hội tụ với bất cứ ai và với cái gì khác?

Những ngày gần đây, các thành phần hữu khuynh thường tỏ ra khó chơi, ăn nói gàn dở, như những lý thuyết gia “hội tụ.” Họ là những người thường gán cho Tổng Thống Obama nhãn hiệu một tên hoạt động bí mật cho “xã hội chủ nghĩa Âu châu” và cả tin kế hoạch y tế của Obama sẽ gây ô nhiễm những chất lỏng quý báu của Hoa Kỳ, tương tự Tướng Jack D. Ripper của Dr. Strangelove đã âu lo về “fluoridation” [hòa fluoride vào nước uống để giảm thiểu bệnh sâu răng]. Mặc dù những ý tưởng hoang đường của những gương mặt điên khùng như thế, Hoa Kỳ rõ rệt đang đi theo hướng trái ngược. Trên bình diện kinh tế, phe Dân chủ hiện nay còn bảo thủ hơn cả phe Cộng Hòa của thập kỷ 1970, và phe Cộng Hòa đã thanh lọc mọi thành phần ôn hòa khỏi hàng ngũ hữu khuynh.

Thay vì hội tụ với xã hội chủ nghĩa Bắc Âu, Hoa Kỳ từ lâu đã ngã theo chủ nghĩa tự do. Tea Party than phiền một nhà nước “nanny” và”kiểm soát” vũ khí , nhưng lại luyến tiếc những phương cách đầy sát khí trong đó nhà nước đang nắm trong tay các lực lượng phi-tự-do. Hoa Kỳ đang bành trướng các “đảo giam cầm”, những “gulag của chính mình,” đến đổi nước Mỹ ngày một có nhiều tù nhân so với bất cứ xứ phát triển nào trên địa cầu. Hệ thống chính trị của Hoa Kỳ đã lọt vào tay câu lạc bộ người giàu — một “nomenklatura” của chính Mỹ — với nạn tham nhũng thẩm thấu xã hội đến trình độ không ai còn dám gọi tên và các nhà phê bình thay vào đó từ “”revolving door”và “voter suppression” và ngay cả “influence of money in politics.” Tình trạng xuống cấp của hạ tầng cơ sở công cộng, như chính Liên Bang Xô Viết trong thập kỷ 1970, đã biến nước Mỹ thành một xứ với bối rối sập cầu, tuyến dẫn hơi đốt và dẫn nước nổ tung, đường hỏa xa chạy ngang vườn sau, nhà máy điện thiếu an toàn, và tai họa môi sinh trầm trọng.

Thêm vào đó còn phải liệt kê tình trạng bí mật và giám sát tràn lan trong guồng máy chính quyền, ngân sách quân sự không còn đủ sức gánh chịu, quân sự hóa chính sách đối ngoại, can thiệp bừa bải và tai họa, và Hoa Kỳ không mấy khác một Liên Bang Xô Viết trước ngày tan rã. Và Hoa Kỳ dù chưa hẳn đã rơi vào tình trạng chuyên quyền, và vì vậy, khuynh hướng hội tụ gần như hoàn tất, nhưng chỉ cần thêm một lãnh đạo mỵ dân [populist] là thành đạt được kịch bản xấu nhất.

LỊCH SỬ CHẤM DỨT Ở ĐÂU?

Trong chiều dài lịch sử, phát triển không phải là con đường một chiều hướng dẫn lưu thông đến trạm cuối duy nhất. Đã hẳn người La Mã trong thế kỷ đầu AD và người Ottomans trong thế kỷ XVI những tưởng tương lai huy hoàng của họ có thể đầy dẫy những Caesars và sultans thành công. Họ đã không tiên liệu những bước giật lùi vĩ đại, càng không nghĩ đến một sụp đổ tương lai của tất cả các hệ thống của chính mình. Tại sao EU và Hoa Kỳ khổng lồ cần được miễn nhiễm khỏi các con đường ngoằn ngoèo của lịch sử?

Tuy vậy, Hoa Kỳ đang tự an ủi: những gì đang xẩy ra ở Nga và Trung Quốc cũng chỉ là một ngã rẽ tạm thời. Fukuyama rất có thể đã quá vội vàng với lời tiên đoán chung điểm của lịch sử trong năm 1989, nhưng chủ nghĩa định mệnh của Fukuyama vẫn còn ăn sâu trong thế giới quan của giai cấp ưu tú Tây Phương. Họ đang an tọa và nóng lòng mong chờ các quốc gia khác “sớm làm chủ các giác quan của mình” vả trở thành “giống họ hơn.” Họ đang kiêu ngạo chờ đợi “hội tụ qua thu nạp” diễn tiến và sẽ đến nếu không phải ngày mai thì cũng vào một khoảnh khoắc nào đó trong tương lai.

Nhưng nếu, trong thực tế, tất cả các chỉ dấu dọc đường cao tốc không cùng hướng đến một điểm hẹn chung, lúc đó, rất có thể chúng ta cũng nên dừng lại, kiểm tra đồng hồ, nhìn xem cuối cùng đến bao giờ Bắc Triều Tiên sẽ sụp đỗ, Đảng Cộng Sản Trung Quốc sẽ bùng nỗ, và chủ nghĩa Putin sẽ ngừng lại. Đây không phải những ngõ cụt của quá trình tiến hóa để chờ đợi một biến cố hay một sao băng chính trị nào khác, giống như biến cố chính trị 1989 với sự tan rã của Liên Bang Xô Viết, xẩy ra trên hành tinh quét sạch mọi thứ. Với tất cả những hiểu biết của chúng ta, những biến cố đó rất có thể sẽ thượng tồn các thách đố của Tây Phương. Chủ thuyết lai ghép [hybrid] của Trung Quốc, chẳng hạn, hiện nay hình như không mấy kém ổn định hơn bất cứ hình thức dân chủ tự do nào khác, nhất là kinh tế Trung Quốc nay đã qua mặt kinh tế Hoa Kỳ để trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới. Bắc Kinh cũng không tỏ rõ ý định chấm dứt chế độ độc đảng bất cứ lúc nào.

Các lý thuyết gia hội tụ đã chờ đợi vài khuynh hướng toàn cầu nào đó, từ canh tân kỹ thuật đến phát triển kinh tế, có thể thúc đẩy các hệ ý thức khác nhau hướng đến một hợp nhất vào một thời điểm nào đó trong tương lai. Họ có thể đúng về cơ chế, nhưng đã sai về kết quả. Một tập hợp các yếu tố — khủng hoảng tài chánh toàn cầu, bất bình đẳng kinh tế gia tăng, tài nguyên thiên nhiên ngày một khan hiếm, kích động chống nhập cư, cực đoan tôn giáo dài lâu, và bất bình với dân chủ cử tri ngày một lan tràn — đang đẩy các quốc gia hướng đến một hình thức hội tụ cực kỳ thiếu hài hòa. Hãy quên đi “nhà nước kỹ nghệ mới” [the new industrial state]. Hoan nghênh “chuyên chế hậu-kỹ nghệ mới!”

Các biến động địa-chính-trị vẫn tiếp diễn và đang dồn dập tung ra nhiều dạng thức lai ghép mới. Nhiều chế độ “thị trường toàn trị” rất khó ưa thích, thành quả của quá trình lai ghép hỗn tạp nhiều khía cạnh không đáng trân quý của chủ nghĩa tập thể và chủ nghĩa tư bản. Nhưng tất cả cũng là những nhắc nhở hùng mạnh: vì không phải là nô lệ của lịch sử, chúng ta vẫn có thể biến cãi chủ thuyết chiến thắng giả định của chúng ta, với mọi khiếm khuyết như tham nhũng, bất bình đẳng, và thiếu bền vững , thành một cái gì đó tốt hơn cho nhân loại và hành tinh. Loài dơi và loài cá voi, hai loài khiếm thị, vẫn tìm được lối đi an toàn, và mặc dù không phải không thể tránh, nhân loại chúng ta cũng có thể làm được.

 

Nguyễn Trường

Irvine, California, U.S.A.

12-6-2015

 

 

 

 

Advertisements