HOA KỲ VÀ KỶ NIỆM THẬP KỶ 1960 THỨ 50

Ở Hoa Kỳ, “Kỷ niệm Thập kỷ 1960 thứ 50”– một thập kỷ bất bình thường — đang được cử hành mỗi năm một lần. Và đây chính là sinh nhật Chiến Tranh Việt Nam 1965!

Nhưng chính quyền Mỹ kỷ niệm Chiến Tranh Việt Nam, một tai họa đặc trưng của kỷ nguyên, bằng cách nào?   Xét cho cùng, chính quyền Mỹ đã xúc tiến [và kết thúc] cuộc chiến “vô luân” với những lý do ngụy tạo, kéo dài nhiều năm, ngay trong khi hầu hết dân Mỹ chống đối, và đã thất bại trong mọi mục đích đã công khai theo đuổi. Hơn 58.000 quân nhân Mỹ đã phải thiệt mạng cùng với trên bốn triệu người Việt, người Lào, và người Cao Miên.

Như vậy, trên giấy mời dự lễ kỷ niệm thứ 50, chính quyền Mỹ sẽ viết những gì? Không cần nói, chắc bạn cũng đã có câu trả lời. Chính quyền Mỹ đã tập dượt trong nhiều thập kỷ, gạt ra ngoài mọi ký ức ghê tởm của cuộc chiến và đơn thuần cổ súy: “Chúng ta hãy tôn vinh tinh thần phục vụ và hy sinh của cựu chiến binh của chúng ta.”[1]

Để có một ý niệm về ý nghĩa sinh nhật thứ 50, chúng ta cần nhớ: đối với các sinh viên đại học ngày nay, thời đại đó đã  là một lịch sử xa xôi. Hầu hết phụ huynh của họ ngay cả đã không còn sống trong năm 1965 khi Tổng Thống Lyndon Johnson khởi động leo thang Chiến Tranh Việt Nam, dội bom trải thảm hàng ngày trên toàn lãnh thổ Việt Nam, Bắc cũng như Nam, và đã tăng cường quân đội lên trên  nửa triệu.

Trong những thập kỷ hậu-Chiến-Tranh-Việt-Nam, văn hóa Hoa Kỳ đã vùi lấp hầu hết dấu tích lịch sử đã từng được xem như thiết yếu đối với bất cứ cuộc tranh luận đứng đắn nào trong bất cứ cuộc chiến nào của Hoa Kỳ, đến độ rất ít sử  liệu chất lượng còn sót lại.

Theo giáo sư sử học Christian G. Appy, điều khá kỳ lạ là hầu hết  số 180 sinh viên chọn môn Chiến Tranh Việt Nam của ông mỗi năm đã tỏ ra cực lực hiếu kỳ. Họ đã cảm nhận đề tài như một bí mật đen tối, cuối cùng đã có thể được phơi bày. Tất cả những gì phần đông biết được là “Thập Kỷ 1960”, những năm chiến tranh, là một “thời kỳ rối loạn.”[2] Riêng đối với Việt Nam, họ có rất ít dấu ấn hay mốc giới văn hóa. Điều nầy cũng chẳng có gì đáng ngạc nhiên. Ngay cả Hollywood — một địa danh định hình ký ức lịch sử hùng mạnh — từ lâu cũng đã ngưng sản xuất các phim ảnh về Việt Nam. Một vài sinh viên của Christian G. Appy đã vô tình bắt gặp các phim cũ như “Apocalypse Now” và “Platoon”, nhưng rất hiếm có cơ may một trong bọn họ đã xem được những phim tài liệu nóng bỏng sản xuất trong cuộc chiến, như “In the Year of the Pig” và “Hearts and Minds.”  Những dấu tích phản chiến sâu sắc nhiệt tình như thế, cùng với chính phong trào phản chiến, đã đơn thuần biến khỏi ký ức quần chúng.

Một mặt khác,  thực tế đó cũng có điều lợi: các sinh viên ghi tên vào lớp học đầu tiên không với những niềm tin vững chắc nào về cuộc chiến. Điều nầy có nghĩa: họ có thể ngạc nhiên, ngay cả bị sốc, khi hiểu được các thực tế cực kỳ dã man của cuộc chiến và đó chính là lúc để giáo dục thực sự bắt đầu. Chẳng hạn, nhiều sinh viên đã sửng sốt khi khám phá ra sự thật trần truồng: chính quyền Hoa Kỳ, luôn lớn tiếng rao giảng luôn phổ biến dân chủ, trong thực tế, đã quyết tâm chận đứng cuộc bầu cử tái thống nhất được quốc tế chuẩn nhận trong năm 1956, vì biết trước hầu như chắc chắn lãnh tụ Cộng Sản Hồ Chí Minh sẽ đại thắng.

Sinh viên càng ngạc nhiên hơn khi khám phá thực tế “cảnh máu đổ xương rơi” do quân đội Hoa Kỳ gieo rắc trong khắp các vùng nông thôn Việt Nam đã biến thành các “khu vực tác xạ tự do” [“free-fire zone”]. Tuy nhiên, không có gì gây sốc đối với họ nhiều hơn “chi tiết vụ tàn sát Mỹ Lai” [the details of the Mỹ Lai massacre], trong đó bộ binh Hoa Kỳ đã tập trung và hạ sát trên 500 thường dân Nam Việt Nam không võ trang, không chống đối, hầu hết là đàn bà, trẻ con, và người già, trong hơn bốn tiếng đồng hồ vào ngày 16-3-1968.  Trong các trường trung học, rất nhiều sinh viên đã cho giáo sư Christian G. Appy biết, Mỹ Lai không hề được nhắc tới và thảo luận.

MỘT THẢM KỊCH CỦA MỸ

Đừng nghĩ rằng các sinh viên trẻ tuổi là sản phẩm duy nhất của “lịch sử Chiến Tranh Việt Nam đã bị bạch hóa” [a whitewashed history of the Vietnam War]. Nhiều người Mỹ lớn tuổi cũng đã bị ảnh hưởng bởi nhiều thập kỷ bóp méo, xuyên tạc, và tái duyệt, với mục đích gột rữa một thành tích nhơ nhuốc tàn bạo đến tột độ. Bước đầu tiên trong quá trình gột rữa là tẩy sạch ký ức càng nhiều càng tốt, và bắt đầu ngay cả trước khi chế độ do Hoa Kỳ hậu thuẩn và yểm trợ ở Nam Việt Nam sụp đổ vào cuối tháng 4 năm 1975. Thực vậy, một tuần lễ trước khi Sài Gòn thất thũ, Tổng Thống Gerald Ford đã khuyến khích người Mỹ gạt qua một bên cuộc chiến,  “riêng đối với Hoa Kỳ đã thực sự chấm dứt” — một hình thức cố tình lãng quên cần thiết để phục hồi ý thức hãnh diện, [một ý thức] đã từng hiện hữu trước Cuộc Chiến Việt Nam.”[3]

Vào thời điểm đó, “quên đi” là điều tốt nhất trên thế giới, bởi lẽ không ai, kể cả tổng thống, có thể tưởng tượng người Mỹ, vào một lúc nào đó, có thể tìm được một phương cách tích cực để nhớ đến [Chiến Tranh] Việt Nam. Ngoại trừ một số rất ít các nhà làm chính sách không mảy may hối lỗi trước đây, như Walt Rostow và Henry Kissinger, hầu như tất cả mọi người, mặc dù lập trường chính trị ít nhiều có khác nhau, đều tin cuộc chiến quả là một tai họa hoàn toàn.[4]

Chẳng hạn, vào năm 1971, 58% dân Mỹ đã trả lời trong những cuộc thăm dò công luận: họ nghĩ cuộc xung đột là “vô luân” [immoral], một từ hầu hết người Mỹ đã không bao giờ áp dụng cho các cuộc chiến của xứ sở họ.[5]

Thời gian đã thay đổi cực nhanh. Chỉ cần một thập kỷ sau, người Mỹ đã tìm được một phương thức quyến rũ để kỷ niệm cùng cuộc chiến. Câu chuyện đã diễn ra khá đơn giản và  theo một phương cách đáng ngạc nhiên: “tập trung vào quyền lợi của chúng ta, không phải của họ [Việt Nam], và đồng ý cuộc chiến chính yếu là một thãm kịch của Hoa Kỳ. [Nhưng] đừng nghĩ gì đến những những tổn thương và tai hại …người Mỹ đã gây ra cho Việt Nam và [chỉ cần] chú tâm vào những gì “chúng ta” đã gây ra cho chính “chúng ta.”Chẳng bao lâu sau, Tổng Thống Ronald Reagan và đội ngũ đã xác nhận cuộc chiến đã mang tính tai họa chính là vì đã làm suy yếu nhận thức hãnh diện và tinh thần  ái quốc, cùng lúc ngăn trở tham vọng quốc gia phô trương uy quyền trên toàn cầu. Dưới thời Reagan, Việt Nam đã trở thành lời kêu gọi chấn chỉnh và củng cố chủ nghĩa quốc gia và quân sự.[6]

Mặc dù phe tự do và ôn hòa đã không tin tưởng quan điểm của Reagan: Việt Nam là một cuộc chiến “cao thượng” và có thể thắng.  Nói chung,  họ vẫn hậu thuẩn niềm tin lúc một gia tăng: rồi ra vẫn có thể thành công trong nỗ lực bóp ngạt những viễn cảnh phản chiến còn lây lất, và thay vào đó, chú tâm vào quá trình “hàn gắn” quốc gia. Cốt lõi của niềm tin mới là ý niệm chính các cựu chiến binh Hoa Kỳ là nạn nhân lớn nhất của cuộc chiến và vết thương của họ phần lớn là hậu quả của lối đối xử tồi tệ các thành phần phản chiến đã dành cho họ khi họ từ chiến trường Việt Nam trở về trước thái độ thiếu thiện cảm của đồng bào của họ ở quốc nội. Thực vậy, đó chính là niềm tin: khía cạnh đáng hổ thẹn nhất của Chiến tranh Việt Nam là Hoa Kỳ đã thất bại trong cách đón chào và vinh danh các quân nhân từ Việt Nam trở về.[7]

Đã hẳn, cũng có một chút sự thật nào đó trong lòng tin cựu-chiến-binh-như-nạn-nhân. Trong thực tế, các cựu chiến binh Việt Nam đã bị ngược đãi đáng ghê tởm. Tuy nhiên, người lạm dụng chính yếu là chính quyền Hoa Kỳ, trước hết đã dối trá với họ về nguyên nhân và bản chất của cuộc chiến, kế đến là đã gửi họ đi chiến đấu để hổ trợ một chế độ thiếu vắng hậu thuẩn của quần chúng và độc tài, trong một đất nước đa số đều xem họ như đội quân xâm lăng. Cuối cùng, khi hồi hương, chính quyền của chính họ đã không dành cho họ đầy đủ hậu thuẩn hay quyền lợi.

Và tập đoàn các đại công ty cũng đáng bị trách cứ. Giới chủ ngại ngùng tuyển dụng hay huấn luyện họ, trong nhiều trường hợp, gián tiếp xua đuổi họ qua các khuôn mẫu sống sượng trên các kênh truyền thông trong thập kỷ 1970:  xem họ như các phần tử điên tàng, lẫn quẫn, và cựu chiến binh bạo động.

Các tổ chức cựu chiến binh truyền thống như “American Legion” hay “Veterans of Foreign Wars” cũng chẳng ân cần tiếp đón những cựu chiến binh trở về từ các cuộc chiến khốc liệt và không được quần chúng hậu thuẩn — đa số là các quân nhân vỡ mộng.

QUẲNG PHONG TRÀO PHẢN CHIẾN VÀO SỌT RÁC LỊCH SỬ

Tuy nhiên, trong thập kỷ 1980,  số người Mỹ đã phải gánh chịu búa rìu đối xử tệ bạc với các cựu chiến binh Việt Nam là các nhà hoạt động phản chiến của kỷ nguyên trước. Thực vậy, trong nhiều năm trước cuối tháng tư 1975, phong trào phản chiến thường được hướng dẫn bởi, và đầy dẫy với, các cựu chiến binh phản chiến, đã cố tình bị bỏ quên .

Theo một thần thoại hậu chiến thẩm nhập khắp nơi, các cựu chiến binh trở về từ Việt Nam thường bị lên án như những “kẻ giết trẻ con” và thường bị các người biểu tình phỉ nhỗ. Câu chuyện bị phỉ nhỗ — thường bị phóng đại quá trớn, nếu không phải hoàn toàn được sáng tạo — đã giúp tăng cường bước ngoặt hữu khuynh trong chính trị Hoa Kỳ trong kỷ nguyên hậu-Việt-Nam. Đó là phương cách dạy cho người Mỹ tôn vinh các cựu chiến binh nạn nhân, trong cùng lúc, làm mất danh dự hàng triệu người Mỹ đã hăng say hoạt động giúp họ hồi hương an toàn từ cuộc chiến phi-chính-nghĩa. Bằng cách nầy, phong trào phản chiến lớn lao khác thường trong lịch sử dần dà đã bị mất uy tín và quẳng vào sọt rác lịch sử.

Trong quá trình, một chuẫn mực mới mẻ hơn đã được du nhập để thay thế. Người Mỹ bắt đầu đối xử với những quân nhân phục vụ đất nước như những anh hùng theo định nghĩa, bất kể những gì họ đã làm trong thực tế. Hiện tượng nầy xuất hiện trước tiên trong một bối cảnh hoàn toàn khác. Vào đầu năm 1981, khi các nhà ngoại giao và các viên chức quân và dân sự Hoa Kỳ cuối cùng đã được phóng thích sau 444 ngày bị giam giữ bởi Iran, các con tin trước đây đã được tiếp đón như những vị anh hùng của thời đại — tiệc khoản đãi ở Tòa Bạch Ốc, các cuộc diễn hành “ticker-tape”, vé danh dự vào cửa trong các dịp tranh tài thể thao … Điều nầy đã chứng tỏ cội nguồn khai sinh định nghĩa mới về “đức tính anh hùng” đã bén rễ đầu tiên. Trước đó người Mỹ đã tin “anh hùng thực sự” là những ai đã chấp nhận những bất trắc hy sinh lớn lao vì những lý tưởng cao cả. Ngày nay, quy chế đã được ban phát cho toàn thể một nhóm người chỉ đơn thuần sống sót sau một thử thách kinh tởm.

Hành động như vậy với các cựu chiến binh Việt Nam, và với mỗi một binh sĩ hay cựu chiến binh kế tiếp, hình như là một điều thiếu khôn ngoan. Đó là một phương thức dễ dàng ứng dụng trong một kỷ nguyên yếm thế và bất chấp đạo lý mới. Bạn không còn phải tin ở sứ mệnh các “anh hùng Hoa Kỳ chiến đấu” là cao cả và công bằng; bạn chỉ đơn thuần đồng ý bất cứ ai “phục vụ Hoa Kỳ” trong bất cứ tư cách nào đương nhiên xứng đáng được tôn vinh.

Vào lúc “Bức Tường Tưởng Niệm các Cựu Binh Việt Nam” [Vietnam Veterans Memorial]  trong Washington’s Mall được khai trương trong năm 1982, một đồng thuận chung quanh ý tưởng, dù cho bạn nghĩ thế nào về Chiến Tranh Việt Nam, toàn thể dân Mỹ phải tôn vinh các cựu binh tham chiến, bất kể điều gì bất cứ ai trong bọn họ đã  làm. Các nhà hoạch định Bức Tường Tưởng Niệm đã giúp thuyết phục công chúng Hoa Kỳ: người Mỹ có thể “tách binh sĩ khỏi cuộc chiến.”[8]

Như bức tường đá “granite” mầu đen của Đài Tưởng Niệm đã minh chứng một cách sinh động: bạn có thể tôn vinh các cựu binh mà chẳng cần phải bình phẩm về cuộc chiến trong đó họ đã chiến đấu. Trong những năm sắp tới, bài học sẽ được lặp lại thường xuyên đến nỗi nó sẽ trở thành một bộ phận nền tảng của văn hóa. Một ví dụ kinh điển là mẫu quảng cáo đăng trong năm 1985 nhân ngày kỷ niệm thứ 10 cuộc chiến chấm dứt bởi nhà thầu quốc phòng United Technologies:

“Xin để cho  người khác dùng cơ hội nầy để giải thích tại sao chúng ta đã có mặt ở đó, những gì chúng ta đã hoàn thành, những gì đã sai trái, và ai đã đúng. Ở đây chúng ta chỉ tìm cách thu hút sự chú ý đến những ai đã phục vụ… Họ đã chiến đấu không để giành chiếm lãnh thổ, hay vinh quang quốc gia, hay tài phú cá nhân. Họ đã chiến đấu chỉ vì họ đã nghe theo tiếng gọi phục vụ ….dù cho chua cay còn lây lất trong lương tâm của chúng ta…chúng ta đừng nên quên cựu chiến binh Việt Nam.”[9]

Kể từ sau biến cố 11/9,  hậu thuẩn dành cho quân nhân và cựu chiến binh đã được nghi thức hóa, mang tính tượng trưng hơn thực chất, và đã ngày một phổ biến, với đầy đủ ruy băng vàng, chào đón ở phi trường, lễ nghi nghênh đón khi hồi hương, xa lộ tưởng niệm, vé phi cơ danh dự, hòa nhạc, tranh đua thể thao… Qua đủ loại nghi thức, các chính trị gia, các nhân vật danh tiếng, các lực sĩ, liên tục luôn nhắc nhở chúng ta đã không bao giờ làm đủ để chứng tỏ sự hậu thuẩn của chúng ta.[10]

Có lẽ vài cựu chiến binh đã tìm thấy ý nghĩa trong các hình thức cám ơn không dứt như thế, nhưng nhiều cựu chiến binh khác lại cảm thấy trống rỗng và bẽ mặt. Cựu chiến binh cao thượng chỉ cảm thấy bị biến thành một chiêu bài rập khuôn như những trò đùa điên rồ, những cử chỉ cám ơn khuôn sáo, trơ trẻn, cản trở mọi đối thoại và trao đổi khả dĩ. “Cám ơn tinh thần phục vụ của bạn” chẳng mất mát hay ích lợi gì, trong khi “xin vui lòng kể lại cho chúng tôi nghe những gì bạn đã làm để phục vụ” có thể hữu ích hơn, mặc dù lúc đó chúng ta có thể phải cảm nhận khó chịu trong vài giờ. Như Rory Fanning, một cựu chiến binh sau hai đợt phục vụ chiến trường Afghanistan, đã nhận xét, “chúng ta dùng từ ‘anh hùng’ một phần vì từ nầy giúp chúng ta cảm thấy dễ chịu và một phần từ nầy giúp bịt miệng các quân nhân… ‘Cám ơn các anh hùng’ làm nản lòng bất đồng quan điểm, bất đồng chính kiến, đó là một lý do các quan chức quân sự thường sử dụng từ nầy.”[11]

LỄ TƯỞNG NIỆM CÁC CHIẾN SĨ KÉO DÀI 13 NĂM

Mặc dù đa số người Mỹ đã bác bỏ các cuộc chiến Afghanistan và Iraq không kém Chiến Tranh Việt Nam, sự kết hợp bất chợt hiện nay giữa “nhiệm vụ quân dịch”“quyền tự do của họ” đang kiềm chế tư duy về các chính sách quân sự hóa cao độ của Hoa Thịnh Đốn trên thế giới.

Trong năm 2012, với sự chấp thuận và tài trợ của Quốc Hội, Ngũ Giác Đài đã bắt đầu “định chế hóa  “Việt Nam ‘thank you’ ” như “Lễ Kỷ Niệm thứ 50 Chiến Tranh Việt Nam liên tiếp trong nhiều năm và nhiều triệu mỹ kim.” Đó là “cử hành lễ ‘thank you’ ” được ấn định sẽ kéo dài trong 13 năm mãi cho đến năm 2025, mặc dù nhấn mạnh đến giai đoạn — từ lễ “Memorial Day 2015” đến lễ “Veterans Day 2017.”[12]

Bạn sẽ không ngạc nhiên khi biết được mục tiêu số một của Ngũ Giác Đài là để “tri ân hay cám ơn và tôn vinh các cựu quân nhân trong ‘Chiến Tranh Việt Nam’, trong một  đối tác với hơn 1.000 công ty và các nhóm địa phương — những đối tác sẽ bảo trợ các sự kiện quan trọng tại địa phương nhằm tôn vinh các cựu chiến binh Việt Nam, gia đình của họ, và những cựu tù nhân chiến tranh và mất tích.” Các mục tiêu phụ khác bao gồm: “để tỏ lòng tri ân đối với các đóng góp cho mặt trận quốc nội” (đã hẳn không phải các nhà hoạt động đòi hòa bình) và, để nêu rõ những tiến bộ kỹ thuật, khoa học, và y khoa liên hệ với các khảo cứu quân sự thực hiện trong suốt những năm dài Chiến Tranh Việt Nam.” [ Hơi khó tưởng tượng được những gì muốn nói; tuy vậy, chúng ta có thể nghĩ đến,  ngay cả loại thuốc khai quang “Agent Orange hữu hiệu hơn” hay những “bom chùm được cải tiến”.][13]

Vì lẽ Ngũ Giác Đài hiểu rõ, dù bạn có cố gắng đến đâu, bạn cũng không thể hoàn toàn “tách các chiến binh khỏi cuộc chiến,” Ngũ Giác Đài cũng tìm cách “cung cấp cho quần chúng Hoa Kỳ các tư liệu lịch sử xác thực và các kinh nghiệm tương tác giúp người Mỹ hiểu rõ và đánh giá đứng đắn giá trị phục vụ của cựu chiến binh Việt Nam và lịch sử can thiệp của Hoa Kỳ trong Chiến Tranh Việt Nam.” Tuy nhiên, trong thực tế, “xác thực” và “đánh giá”[đứng đắn], cả hai chỉ có thể được thể hiện nếu bạn cẩn thận tẩy xóa khỏi lịch sử các tình tiết phụ rắc rối, không hay, không thuận lợi, và loại bỏ mọi thành phần đánh giá thấp, kể cả hàng nghìn quân nhân Mỹ đã lấy làm ghê tởm đối với cuộc chiến đến độ đã phải chống lại cấp trên, tránh né hay từ chối sứ mệnh chiến đấu, đào ngũ hàng loạt, và đã tạo dựng phong trào quân nhân [GI] và cựu quân nhân phản chiến sôi sục trong lịch sử Hoa Kỳ.[14]

Những tài liệu giáo dục tham vọng nhất  trên website “Vietnam War Commemoration” là một tài liệu tương tác — “interactive timeline.” Như các sử gia đã chứng minh, một liệt kê lịch sử đã là một kiệt tác bất cân xứng, bóp méo, và sai sót. Chẳng hạn, tài liệu chỉ trình bày trong ba dòng ngắn gọn vụ thảm sát ở Mỹ Lai [không có ngay cả từ massacre] và chỉ ghi nhận viên sĩ quan chỉ huy Charlie Company [Trung đội Charlie] tiến vào làng , Trung Úy William Calley, đã “bị kết án tù chung thân” [sentenced to life in prison] mà chẳng ghi rõ thêm chỉ bị xử “tù tại gia”, và đã được Tổng Thống Richard Nixon trả tự do sau ba năm rưỡi [was paroled by President Richard Nixon after just three-and-a-half years under house arrest].

Sự mô tả thiếu thích đáng trên đây có lẽ nhằm tránh né câu hỏi rõ ràng sẽ gây lúng túng cực kỳ: Bằng cách nào một sự việc như thế đã có thể xẩy ra? Tốt nhất  là dồn chung vào một trang bao gồm những tuyên dương chính thức dài dòng bảy quân nhân được ban thưởng Huy Chương Danh Dự.

Sự kiện Nghị Sĩ phản chiến Robert Kennedy tuyên bố ra tranh cử tổng thống cùng ngày với vụ tàn sát Mỹ Lai, để rồi bị ám sát ba tháng sau đó, cũng chẳng được nhắc đến,  cũng như vụ ám sát Martin Luther King, Jr., chỉ ít tuần sau vụ Mỹ Lai, một biến cố khởi động các xung đột chủng tộc đắng cay và đẩm máu trong các căn cứ quân sự Hoa Kỳ trên khắp Nam Việt Nam và thế giới.

Một điều đáng ghi nhận khác: cùng một chính quyền — đã chi tiêu 65 triệu USD để tưởng niệm các cựu chiến binh trong một cuộc chiến đáng phỉ nhổ trước đây — đã không quan tâm cung cấp các dịch vụ y tế cần thiết cho họ. Trong năm 2014, tin tức cũng đã cho biết: Cơ Quan Cựu Chiến Binh đã không đáp ứng nhu cầu các dịch vụ y tế cho 100.000 cựu chiến binh và vài bệnh viện cựu quân nhân đã tìm cách che dấu các chậm trễ quá đáng của mình. Mỗi ngày ước tính có tới 22 cựu chiến binh tự tử, và trong số các cựu chiến binh Iraq và Afghanistan, tỉ suất tự tử, theo một nghiên cứu, 50% cao hơn các nhân viên dân sự tương đương.

Lễ kỷ niệm của Ngũ Giác Đài đã gây ra những phản ứng mạnh mẽ từ các nhóm như Veterans for Peace [Cựu Chiến Binh vì Hòa Bình] và Vietnam Peace Commemoration Committee [Ủy Ban Tưởng Niệm Hòa Bình Việt Nam] — do Tom Hayden đồng sáng lập. Cả hai đang hoạch định các tưởng niệm thay thế được thiết kế bao gồm cả viễn cảnh phản chiến, trước đây đã có lần hết sức phổ biến nhưng ngày nay rõ ràng vắng bóng trong ký ức quần chúng. Các nỗ lực đó có thể giúp đưa đến một tái thẩm định công khai và khách quan đầu tiên Cuộc Chiến Việt Nam, để  thách thức bốn thập kỷ chấn chỉnh mang tính thẫm mỹ của Ngũ Giác Đài.

Nhưng không may, trong thế giới chiến tranh triền miên của Hoa Kỳ trong thế kỷ XXI, hâm nóng Việt Nam có thể mang tính không mấy thích hợp hay trùng lặp. Nếu như vậy, rất có thể không những tưởng niệm của Ngũ Giác Đài mà cả phản-tưởng-niệm phản chiến đều không được nhiều người quan tâm. Có lẽ di sản tai hại nhất của kỷ nguyên hậu-Việt Nam sẽ cản trở phương cách người Mỹ đã học làm quen sinh sống trong thời chiến thường trực cùng lúc chiến tranh sẽ không phải là một phần của ý thức hàng ngày. Trong khi hậu thuẩn của đại chúng đối với các chính sách chiến tranh của Hoa Thịnh Đốn may lắm cũng rất èo ọp, rất ít ai chia sẻ niềm tin trong kỷ nguyên Việt Nam ngày nay họ có thể  thách thức một guồng máy gây chiến hình như đang sở hữu một đời sống của riêng mình.

Trong năm 2014, các lực lượng Hành Quân Đặc Biệt Hoa Kỳ đã theo đuổi nhiều sứ mệnh quân sự bí mật trong 133 quốc gia và đang trên đường vượt quá con số đó trong năm 2015.  Tuy nhiên,  các cam kết xa xăm đó phần lớn đã không được các cơ quan truyền thông và đa số quần chúng quan tâm. 99% người Mỹ đang trông cậy vào 1% người Mỹ ‘bảo vệ tự do của mình”trong trên dưới 70 quốc gia trên thế giới và ngay trong quốc nội, và tất cả những gì đòi hỏi ở mỗi người Mỹ là thỉnh thoảng chỉ cần gửi lời cám ơn — “thank you for your service”– đến những người họ không biết là ai  và những cuộc chiến của những  người nầy —  những cuộc chiến người Mỹ cũng chẳng phải dành thời gian quý báu để quan tâm.

Từ Chiến Tranh Việt Nam, Ngũ Giác Đài và những người biện hộ đã học được những bài học căn bản phải làm sao để đánh bóng, uốn nắn, và chôn vùi sự thật. Hậu quả đã rất tai hại. Tạo lập một thảm kịch Hoa Kỳ giả tạo từ một thảm kịch Việt Nam thực sự đã chuẩn bị lối đi cho nhiều thảm kịch như thế, từ Afghanistan đến Iraq, từ Pakistan đến Yemen, và  — nếu lịch sử là người dẫn đường — một thảm kịch chưa biết đang thành hình đâu đó, nhưng đã hẳn, là từ một trong số 133 quốc gia  nói trên.

Nguyễn Trường

Irvine, California, U.S.A.

26-6-2015

Chú Thích:  Bài viết hoàn toàn dựa vào tư liệu của Christian G. Appy, giáo sư sử học thuộc University of Massachusetts, tác giả của ba tác phẩm về Chiến Tranh Việt Nam, kể cả tác phẩm vừa xuất bản  “American Reckoning: The Vietnam War and Our National Identity.”

 

 

[1] “Let’s honor all our military veterans for their service and sacrifice.”

[2] …a “time of turmoil.”

[3] Don’t think that young students are the only products of a whitewashed history of the Vietnam War.  Many older Americans have also been affected by decades of distortion and revision designed to sanitize an impossibly soiled record.  The first step in the cleansing process was to scrub out as much memory as possible and it began even before the U.S.-backed regime in South Vietnam collapsed in 1975. A week before the fall of Saigon, President Gerald Ford was already encouraging citizens to put aside a war that was “finished as far as America is concerned.”  A kind of willful amnesia was needed, he suggested, to “regain the sense of pride that existed before Vietnam.”

[4]At that moment, forgetting made all the sense in the world since it seemed unimaginable, even to the president, that Americans would ever find a positive way to remember the war — and little wonder.  Except for a few unapologetic former policymakers like Walt Rostow and Henry Kissinger, virtually everyone, whatever their politics, believed that it had been an unmitigated disaster.

[5] In 1971, for example, a remarkable 58% of the public told pollsters that they thought the conflict was “immoral,” a word that most Americans had never applied to their country’s wars.

[6] …”focus on us, not them, and agree that the war was primarily an American tragedy.  Stop worrying about the damage Americans had inflicted on Vietnam and focus on what we had done to ourselves”.  Soon enough, President Ronald Reagan and his followers were claiming that the war had been disastrous mainly because it had weakened an American sense of pride and patriotism, while inhibiting the nation’s desire to project power globally.  Under Reagan, “Vietnam” became a rallying cry for both a revived nationalism and militarism.

[7] Though liberals and moderates didn’t buy Reagan’s view that Vietnam had been a “noble” and winnable war, they did generally support a growing belief that would, in the end, successfully supplant lingering antiwar perspectives and focus instead on a process of national “healing.”  At the heart of that new creed was the idea that our own veterans were the greatest victims of the war and that their wounds were largely a consequence of their shabby treatment by antiwar protestors upon returning from the battle zone to an unwelcoming home front.  Indeed, it became an article of faith that the most shameful aspect of the Vietnam War was the nation’s failure to embrace and honor its returning soldiers.

[8]…”separate the warrior from the war.”

[9] “Let others use this occasion to explain why we were there, what we accomplished, what went wrong, and who was right. We seek here only to draw attention to those who served… They fought not for territorial gain, or national glory, or personal wealth.  They fought only because they were called to serve… whatever acrimony lingers in our consciousness… let us not forget the Vietnam veteran.”

[10] Since the attacks of 9/11, ritualized support for troops and veterans, more symbolic than substantive, has grown ever more common, replete with yellow ribbons, airport greetings, welcome home ceremonies, memorial highways, honor flights, benefit concerts, and ballgame flyovers.  Through it all, politicians, celebrities, and athletes constantly remind us that we’ve never done enough to demonstrate our support.

[11] “We use the term hero in part because it makes us feel good and in part because it shuts soldiers up… Thank yous to heroes discourage dissent, which is one reason military bureaucrats feed off the term.”

[12] Although a majority of Americans came to reject the wars in both Afghanistan and Iraq in proportions roughly as high as in the Vietnam era, the present knee-jerk association between military service and “our freedom” inhibits thinking about Washington’s highly militarized policies in the world.  And in 2012, with congressional approval and funding, the Pentagon began institutionalizing that Vietnam “thank you” as a multi-year, multi-million-dollar “50th Anniversary Commemoration of the Vietnam War.”  It’s a thank-you celebration that is slated to last 13 years until 2025, although the emphasis is on the period from Memorial Day 2015 to Veterans Day 2017

[13] And in 2012, with congressional approval and funding, the Pentagon began institutionalizing that Vietnam “thank you” as a multi-year, multi-million-dollar “50th Anniversary Commemoration of the Vietnam War.”  It’s a thank-you celebration that is slated to last 13 years until 2025, although the emphasis is on the period from Memorial Day 2015 to Veterans Day 2017.

You won’t be surprised to learn that the Pentagon’s number-one objective is “to thank and honor veterans of the Vietnam War” in “partnership” with more than 10,000 corporations and local groups which are “to sponsor hometown events to honor Vietnam veterans, their families, and those who were prisoners of war and missing in action.”  Additional goals include: “to pay tribute to the contributions made on the home front” (presumably not by peace activists) and “to highlight the advances in technology, science, and medicine related to military research conducted during the Vietnam War.” (It’s a little hard to imagine quite what that refers to though an even more effective Agent Orange defoliant or improved cluster bombs come to mind.)

[14] Since the Pentagon realizes that, however hard you try, you can’t entirely “separate the warrior from the war,” it is also seeking “to provide the American public with historically accurate materials and interactive experiences that will help Americans better understand and appreciate the service of our Vietnam veterans and the history of U.S. involvement in the Vietnam War.”  However, it turns out that “accuracy” and “appreciation” can both be served only if you carefully scrub that history clean of untoward incidents and exclude all the under-appreciators, including the thousands of American soldiers who became so disgusted with the war that they turned on their officers, avoided or refused combat missions, deserted in record numbers, and created the most vibrant antiwar GI and veterans movement in our history.

Advertisements