BẦU CỬ TỔNG THỐNG HOA KỲ 2016

CỘNG HÒA VÀ DÂN CHỦ, NGA VÀ TRUNG QUỐC

Đại chiến lược của Hoa Kỳ, chương trình dài hạn phát huy quyền lợi quốc gia và chống đối các đối thủ hàng đầu, đang cực kỳ bất ổn định. Các quan chức lãnh đạo cao cấp của Mỹ luôn phải âu lo đối phó từ khủng hoảng nầy đến khủng hoảng khác, trong quá trình tìm kiếm chiến lược và chính sách ứng biến thích hợp. Theo một số phân tích gia, tình trạng nầy bắt nguồn từ thiếu quyết đoán từ Tòa Bạch Ốc, nhưng lý do thực sự thường sâu xa hơn nhiều. Tình trạng nầy cho thấy có sự bất đồng quan điểm giữa các thành phần làm chính sách đối ngoại ưu tú trong nhận thức Nga hay Trung Quốc thực sự là đại cường thù nghịch chính yếu của Hoa Kỳ.

Biết được kẻ thù thường được xem như yếu tố quyết định trong hoạch định chiến lược. Trong kỷ nguyên Chiến Tranh Lạnh, đã hẳn địch thủ số một không có gì để nghi ngờ: đó chính là Liên Bang Xô Viết, và mọi điều Hoa Thịnh Đốn đã làm đều nhằm giảm thiểu tầm với và uy lực của Điện Cẩm Linh. Khi Liên Bang Xô Viết sụp đổ và tan biến, tất cả những gì còn sót lại để thách thức vai trò áp đảo của Hoa Kỳ chỉ còn một số ít “nhà nước ngoài vòng luật pháp” [rogue states].

Tuy nhiên, tiếp theo sau biến cố 11/9, Tổng Thống Bush đã tuyên bố “cuộc chiến toàn cầu chống khủng bố”, với viễn kiến một cuộc chiến nhiều thập kỷ chống lại các thành phần cực đoan Hồi Giáo và đồng minh trên khắp hành tinh. Kể từ đó, với quyết định xếp loại các quốc gia thành hai khối: hoặc “theo chúng tôi” hoặc “chống lại chúng tôi”, hỗn loạn đã bắt đầu. Xâm lăng, chiếm đóng, bố ráp, các cuộc chiến phi cơ không người lái tiếp theo, tất cả, cuối cùng, đều mang tính tai họa, trong khi Trung Quốc đã sử dụng sức mạnh kinh tế để giành ảnh hưởng mới ở thế giới bên ngoài và Nga bắt đầu đe dọa các quốc gia lân bang.

Trong số các nhà làm chính sách của chính quyền Obama và những thành phần đối lập Cộng Hòa, tình trạng xáo trộn trong tư duy chiến lược khá sâu sắc. Chỉ có một đồng thuận tổng quát đối với nhu cầu nghiền nát Nhà Nước Hồi Giáo, Islamic State hay ISIS, từ chối quyền có bom hạt nhân đối với Iran, và cung cấp cho Do Thái mọi loại vũ khí ước muốn, ngoài ra với rất ít những gì khác. Đã hẳn, chẳng có thỏa thuận về phương cách phân phối các tài nguyên chiến lược của Hoa Kỳ, kể cả tài nguyên quân sự, ngay cả trong quan hệ với ISIS và Iran.

Quan trọng hơn hết, không một thỏa thuận về vấn đề một Liên Bang Nga đang hồi phục hay ngay cả một Trung Quốc ngày một tự tin hơn cần được xếp vào hàng đầu danh sách các kẻ thù của Hoa Thịnh Đốn. Thiếu một đồng thuận như thế, các kế hoạch chiến lược dài hạn ngày một trở nên khó khăn để thiết kế hơn. Tuy vậy, trong khi dễ dàng ta thán sự thiếu vắng đồng thuân hiện nay về điểm nầy, cũng vẫn không có lý do để giả thiết cần tạo dựng một kẻ thù chung — một Liên Bang Xô Viết mới — sẽ giúp Hoa Kỳ và thế giới chút ít an ninh hơn ngày nay.

CHỌN LỰA KẺ THÙ

Đối với vài chiến lược gia Hoa Thịnh Đốn, kể cả nhiều nhân vật danh tiếng Cộng Hòa, Nga dưới quyền lãnh đạo của Vladimir Putin là biểu tượng đe dọa mạnh mẽ duy nhất đối với quyền lợi toàn cầu của Hoa Kỳ, và vì vậy, xứng đáng được chọn làm tiêu điểm cần chú ý bởi Hoa Kỳ.

“Ai có thể nghi ngờ Nga sẽ làm những gì Nga ưa thích nếu hành động gây hấn của Nga không gặp đối kháng?”[1] Jeb Bush đã quả quyết như thế hôm 9-6-2015 ở Berlin trong chuyến công du hải ngoại đầu tiên như một ứng viên thổng thống tiềm năng. Jeb Bush cũng đã ghi nhận, để chống lại Putin, “đồng minh của chúng ta [NATO], sự đoàn kết giữa chúng ta, và hành động của chúng ta là thiết yếu nếu chúng ta muốn duy trì các nguyên tắc căn bản của trật tự thế giới của chúng ta, một trật tự các quốc gia tự do đã hy sinh rất nhiều để xây dựng.”[2]

Tuy nhiên, đối với nhiều quan chức trong chính quyền Obama, không phải Nga, mà chính Trung Quốc mới là de dọa lớn nhất đối với quyền lợi của Hoa Kỳ. Họ cảm nhận ngăn chặn [Trung Quốc] phải là ưu tiên so với các lý do khác. Nếu Hoa Kỳ không thành công ban hành luật phê chuẩn hiệp định mậu dịch mới với các đồng minh Thái Bình Dương, Obama đã tuyên bố trong tháng 4-[2015], “Trung Quốc , con dã nhân 800-pound ở Á Châu, sẽ tạo lập các quy luật riêng của mình,” làm giàu cho các công ty Trung Quốc hơn nữa và giảm thiểu khả năng tiếp cận của Hoa Kỳ “trong vùng kinh tế tăng trưởng nhanh nhất, năng động nhất của thế giới.”[3]

Tiếp theo sau sự sụp đổ của Liên Bang Xô Viết, các chiến lược gia quân sự của một Hoa Kỳ hình như hùng cường nhất thế giới — một cực-siêu-cường trong kỷ nguyên hậu -Chiến-Tranh-Lạnh, không một quốc gia nào khác có thể thách thức — đã tưởng tượng Hoa Kỳ có đủ khả năng đương đầu với các cuộc xung đột toàn lực trên hai [hay ngay cả ba] mặt trận cùng lúc.[4]

Cú sốc của thế kỷ XXI ở Hoa Thịnh Đốn là sự khám phá Hoa Kỳ trong thực tế không phải hùng mạnh hơn tất cả về mọi mặt và không thể cùng lúc đối đầu thắng lợi hai đối thủ đại cường [nếu Hoa Kỳ có lúc nào có thể]. Đã hẳn, Hoa Kỳ có thể có những bước tương đối khiêm tốn chống đỡ các sáng kiến của Mạc Tư Khoa và Bắc Kinh trong cùng lúc chiến đấu chống ISIS và các đe dọa ở vài địa phương khác, như chính quyền Obama quả thật đang ướm thử. Tuy nhiên, Hoa Kỳ cũng không thể theo đuổi một chiến lược kiên định, dài lâu, nhằm vô hiệu hóa một đối thủ đại cường như trong Chiến tranh Lạnh. Do đó, một quyết định tập trung vào Nga hay Trung Quốc như kẻ thù số một có thể có nhiều hệ lụy quan trọng đối với chính sách Hoa Kỳ và ý nghĩa chung của quốc tế vụ.[5]

Chẳng hạn, sự lựa chọn Nga như kẻ thù số một nhất thiết sẽ đưa tới hệ quả tăng cường các lực lượng NATO ở Đông Âu và cung cấp các hệ thống vũ khí quan trọng cho Ukraine. Chính quyền Obama luôn chống đối các chuyển giao vũ khí như vậy, viện lẽ những biện pháp như thế chỉ có thể làm sôi sục xung đột đang diễn tiến và phá hoại hòa đàm.

Tuy nhiên, đối với những ai xem Nga như đe dọa lớn nhất, sự dè dặt đó chỉ khuyến khích Putin leo thang can thiệp ở Ukraine và sẽ đem lại một đe dọa lâu dài đối với quyền lợi của Hoa Kỳ. Theo Nghị sĩ John McCain, chủ tịch Ủy Ban Quân Lực Thượng Viện và nhân vật chủ trương Nga là kẻ thù số một, trước thái độ cứng rắn tàn bạo của Putin, lập trường không sẵn sàng vũ trang nhiều hơn cho Ukraine là “một trong những hành động xấu hỗ và thiếu danh dự nhất tôi đã thấy trong đời.”[6]

Một mặt khác, lựa chọn Trung Quốc như đối thủ chính của Hoa Kỳ có nghĩa một lập trường tương đối dè dặt trên mặt trận Ukraine và một đáp ứng mạnh mẽ hơn trước các đòi hỏi và xây căn cứ của Trung Quốc trong vùng biển Nam Hải. Đây là thông điệp do Bộ Trưởng Quốc Phòng Ashton Carter đã gửi đến các lãnh đạo Bắc Kinh vào cuối tháng 5-2015 tại tổng hành dinh Bộ Tư Lệnh Thái Bình Dương của Hoa Kỳ ở Honolulu. Viện dẫn lý do nỗ lực thiết lập các căn cứ của Trung Quốc trong vùng Nam Hải là trái với các chuẫn mực quốc tế, Carter cảnh cáo sẽ có hành động quân sự đáp ứng bất cứ nỗ lực nào của Trung Quốc nhằm cản trở các hoạt động của Hoa Kỳ trong khu vực. “Không nên có sai lầm nào về điểm nầy — không quân, hải quân Hoa Kỳ sẽ hoạt động và thao tác bất cứ ở đâu luật quốc tế cho phép.”[7]

Nếu bạn là một đảng viên Cộng Hòa [ngoại trừ Rand Paul] đang ra ứng cử tổng thống, thật dễ dàng để theo đuổi một chiến lược bao gồm mọi thứ trên đây, mở hết ga vận động chống Trung Quốc, Nga, Iran, Syria, ISIS, và bất cứ địch thủ nào khác. Tuy nhiên, điều nầy chỉ là lớn tiếng hù dọa hay “rhetoric”, không phải chiến lược. Không sớm thì muộn, một cách tiếp cận nào đó sẽ lúc một rõ nét như một chiến lược lựa chọn và dòng lịch sử sẽ được định hướng.

CHỐT HAY TRỤC QUAY Á CHÂU

Dã nhân 800-pound — có nghĩa Trung Quốc — được chính quyền Obama lựa chọn, đã trở thành tiêu điểm vào một lúc nào đó trong những năm 2010-2011. Các kế hoạch lúc đó được soạn thảo cho những gì được giả thiết như quyết định triệt thoái quân lực Hoa Kỳ khỏi Iraq và chuẩn bị kết thúc sự hiện diện quân sự của Hoa Kỳ ở Afghanistan. Vào thời điểm đó, các quan chức hàng đầu trong chính quyền Obama đã tái duyệt một cách có hệ thống quyền lợi chiến lược lâu dài của Hoa Kỳ và đạt đồng thuận tóm tắt trong ba điểm: Á Châu và Thái Bình Dương đã trở thành sân khấu toàn cầu then chốt của cạnh tranh quốc tế; Trung Quốc đã lợi dụng sự bận tâm của Hoa Kỳ ở Iraq và Afghanistan để tăng cường sự hiện diện của mình trong khu vực; và để duy trì địa vị cường quốc số một của thế giới, Hoa Kỳ có thể phải ngăn ngừa Trung Quốc bành trướng ảnh hưởng của mình.

Tư thế nầy, như đã được mô tả trong một chuổi các tuyên bố bởi Tổng Thống Obama, Ngoại Trưởng Hillary Clinton, và các quan chức hàng đầu trong chính quyền, lúc đầu đã được biết đến như “chốt” hay “trục quay Á Châu” và sau đó đã được đổi tên trở thành “tái cân bằng” trong khu vực.

Trình bày chiến lược mới trong năm 2011, Hillary Clinton đã ghi nhận, “Á Châu-Thái Bình Dương đã trở thành trục quay then chốt của chính trị toàn cầu. Trải dài từ tiểu lục địa Ấn Độ đến các bờ biển phía Tây Mỹ Châu…Á Châu-Thái Bình Dương chiếm gần một nửa dân số thế giới [và] bao gồm nhiều đầu máy then chốt của kinh tế toàn cầu.” Trong khi Hoa Kỳ triệt thoái khỏi các cuộc chiến ở Trung Đông, “một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất trong nghệ thuật quản lý nhà nước trong thập kỷ sắp tới, vì vậy, sẽ là gia tăng đầu tư lớn lao — ngoại giao, kinh tế, chiến lược, và mọi thứ khác — trong vùng Á Châu-Thái Bình Dương.”[8]

Như các quan chức của chính quyền Obama mô tả lúc đầu và hiện còn nhấn mạnh, chiến lược nầy sẽ không bao giờ đặc biệt nhằm ngăn chặn sự trỗi dậy của Trung Quốc, nhưng đã hẳn, đó là một cách nói ngoại giao về những gì có nghĩa một thách thức toàn diện đối với một đại cường đang đi lên. Rõ ràng là bất cứ một sự hiện diện tăng cường nào của Hoa Kỳ trong Thái Bình Dương qủa thật cũng tạo thành một thử thách trực tiếp đối với tham vọng cấp vùng của Bắc Kinh.

Obama đã tuyên bố trước Nghị Viện Úc trong tháng 11-2011: “Chỉ thị của tôi rất rõ ràng. Trong khi hoạch định và soạn thảo ngân sách cho tương lai, chúng tôi sẽ phân phối tài nguyên cần thiết để duy trì sự hiện diện quân sự mạnh mẽ của chúng tôi trong vùng. Chúng tôi sẽ bảo toàn khả năng vô song của chúng tôi để phóng chiếu quyền lực và ngăn chặn các đe dọa đối với hòa bình.”[9]

Thực thi chốt Á Châu, Obama và Clinton giải thích, có thể bao gồm hậu thuẩn hay hợp tác với một số quốc gia chung quanh Trung Quốc, kể cả gia tăng viện trợ quân sự cho Nhật và Philippines, ve vãn ngoại giao đối với Burma, Indonesia, Malaysia, Việt Nam, và nhiều quốc gia khác trong quỹ đạo kinh tế Bắc Kinh, mở rộng quan hệ quân sự với Ấn Độ, gia nhập Đối Tác Xuyên Thái Bình Dương [TPP], bao gồm hầu hết các xứ trong vùng, nhưng loại trừ Trung Quốc.

Nhiều người ở Hoa Thịnh Đốn đã bình luận: các hành động của chính quyền Obama trong vùng Thái Bình Dương đã chứng tỏ bị hạn chế thêm bao nhiêu nữa so với loan báo lúc đầu. Đã hẳn, Hoa Thịnh Đốn đã sớm cảm thấy bị vướng víu phải trở lại vùng Trung Đông Nới Rộng và đã phải chuyển hoán nhiều tài nguyên đến vùng nầy, dè sẻn chẳng đủ tài nguyên cần thiết cho chiến lược tái cân bằng ở Á Châu. Tuy vậy, Tòa Bạch Ốc vẫn tiếp tục theo đuổi kế hoạch chiến lược nhằm tăng cường vòng vây Trung Quốc. Thực vậy, trong tháng 11-2013, Cố Vấn An Ninh Quốc Gia Susan Rice đã tuyên bố: “Dù cho có bao nhiêu điểm nóng xuất hiên ở các nơi khác, chúng tôi sẽ vẫn tiếp tục tăng cường cam kết dài lâu đối với vùng trọng yếu nầy.”[10]

Đối với Obama và các quan chức hàng đầu, mặc dù thách thức của ISIS và các nhà nước đang rã rời như Yemen và Libya rách nát bởi bạo động cực đoan, Trung Quốc, với nền kinh tế vốn đã chính thức là số một, vẫn là địch thủ duy nhất có đủ khả năng thay thế vai trò đại cường hàng đầu của thế giới. Đối với họ, điều nầy vẫn được diễn giải như một thông điệp đơn thuần: Trung Quốc phải được kiềm chế với tất cả các biện pháp khả hữu.

Theo họ, điều nầy không có nghĩa sẽ không lưu tâm đến Nga và các kẻ thù tiềm năng khác. Chẳng hạn, Tòa Bạch Ốc đã gửi tín hiệu sẽ bắt đầu tồn trữ vũ khí hạng nặng, kể cả thiết giáp, ở Đông Âu, để sử dụng bởi số quân Mỹ luân chuyển đến vùng nầy trong tương lai, nhằm chống lại áp lực của Nga đối với các quốc gia trước đây vốn là thành viên của Liên Bang Xô Viết. Và, đã hẳn, chính quyền Obama vẫn tiếp tục gia tăng áp lực chống lại ISIS, và gần đây nhất, đã gửi thêm cố vấn quân sự Hoa Kỳ đến Iraq. Tuy nhiên, họ vẫn nhấn mạnh không một ưu tư nào trong số nầy sẽ khiến chính quyền Obama lơ là nhiệm vụ hàng đầu: ngăn chặn Trung Quốc.

CHỐNG ĐỐI MỘT LIÊN BANG NGA ĐANG PHỤC HỒI

Không phải bất cứ ai ở Hoa Thịnh Đốn cũng chia sẻ quan điểm bị ám ảnh bởi Trung Quốc. Trong khi hầu hết các nhà làm chính sách đồng ý Trung Quốc là một thách thức tiềm năng trong trường kỳ đối với quyền lợi của Hoa Kỳ, một nhóm đối lập trong bọn họ nhận thấy đe dọa nầy không gay gắt và cũng không trực tiếp. Xét cho cùng, Trung Quốc vẫn là đối tác mậu dịch số hai của Mỹ [sau Canada] và xứ cung cấp hàng nhập khẩu lớn nhất của Hoa Kỳ. Nhiều công ty Hoa Kỳ kinh doanh rộng lớn ở Trung Quốc, và vì vậy, hậu thuẩn một quan hệ mang tính hợp tác. Mặc dù giới lãnh đạo ở Bắc Kinh rõ ràng đang tìm cách bảo đảm những gì họ xem như quyền lợi của Trung Quốc trong vùng biển Á Châu, mục tiêu hàng đầu của họ là kinh tế, và lãnh đạo của họ cũng đang tìm cách duy trì các quan hệ thân thiện với Hoa Kỳ, và luôn trao đổi ngoại giao cao cấp đều đặn. Chủ Tịch Tập Cận Bình cũng sẽ viếng thăm Hoa Thịnh Đốn trong tháng 9-2015.

Một đằng khác, Liên Bang Nga của Vladimir Putin xem chừng có vẽ đe dọa nhiều hơn đối với các chiến lược gia Hoa Kỳ. Sự sáp nhập Crimea vào Nga và vai trò hậu thuẩn đối với các lực lượng ly khai ở Đông Ukraine được xem như những đe dọa trực tiếp và quan yếu trên lục địa Âu-Á đối với những gì họ xem như một trật tự thế giới dưới quyền áp đảo của Hoa Kỳ. Hơn nữa, Tổng Thống Putin không hề dấu diếm thái độ xem thường Tây Phương và quyết tâm theo đuổi quyền lợi quốc gia của Nga bất cứ ở đâu. Đối với nhiều người nhớ rõ kỷ nguyên Chiến Tranh Lạnh — và điều nầy bao gồm cả các nhà làm chính sách cao cấp của Hoa Kỳ — điều nầy trông rất giống thái độ đe dọa của Liên Bang Xô Viết trước đây. Đối với họ, Nga hình như đang là một đe dọa sống còn đối với Hoa Kỳ trong một phương cách hoàn toàn khác với Trung Quốc.

Trong số những người mang tính đại diện cho quan điểm đen tối, quen thuộc đến kỳ lạ, và thoái hóa nầy, là Nghị Sĩ John McCain. Gần đây, mô tả một tổng quan các đe dọa đang đối mặt Hoa Kỳ và Tây Phương, McCain đã xếp Nga vào hàng đầu danh sách:

“Trong lòng Âu Châu, chúng tôi thấy một nước Nga trở nên bạo dạn bởi một canh tân có ý nghĩa các tham vọng quân sự, làm sống lại đế quốc xa xưa, và một lần nữa, có ý định chinh phục. Lần đầu tiên trong bảy thập kỷ trên lục địa nầy, một quốc gia đầy đủ chủ quyền đã bị xâm lăng và lãnh thổ bị sáp nhập. Tệ hơn nữa, từ Trung Âu đến vùng Caucasus, các dân tộc đang cảm nhận bóng dáng một nước Nga lù lù hiện ra, lớn dần, và trong bóng tối, các giá trị tự do, chủ quyền dân chủ, và các nền kinh tế rộng mở đang bị phá ngầm.”[11]

Đối với McCain và những ai chia sẻ cách tiếp cận của ông, không có vấn đề Hoa Kỳ nên đáp ứng cách nào: ủng hộ NATO, cung cấp các hệ thống vũ khí hạng nặng cho Ukraine, và chống lại Putin bất cứ ở đâu. Ngoài ra, cũng giống như nhiều đảng viên Cộng Hòa khác, McCain hậu thuẩn gia tăng sản xuất năng lượng hóa thạch với kỹ thuật “hydro-fracking,” để xuất khẩu như hơi đốt thể lỏng, nhằm giảm thiểu sự lệ thuộc của Liên Hiệp Âu Châu vào số cung hơi đốt của Nga.

Quan điểm của McCain cũng đang được các ứng cử viên tổng thống Cộng Hòa chia sẻ. Jeb Bush, chẳng hạn, mô tả Putin như “một người thực dụng tàn bạo, người luôn đẩy tới cho đến khi có người đẩy ngược lại.” Nghị Sĩ Ted Cruz, khi được hỏi, trên Fox News, những gì ông có thể làm để chống lại Putin, cũng đã trả lời tương tự: “Thứ nhất, chúng ta cần áp đặt các biện pháp chế tài mạnh mẽ… Thứ hai, chúng ta cần tái-giàn-trải các tên lửa chống đạn đạo ở Đông Âu — Tổng Thống Obama đã hủy bỏ năm 2009, trong một nhân nhượng vô nguyên tắc đối với Liên Bang Nga. Và thứ ba, chúng ta cần xuất khẩu hơi đốt thiên nhiên ở thể lỏng, để giúp giải phóng Ukraine và Đông Âu.” Những bình luận tương tự từ các ứng cử viên khác và các ứng cử viên tiềm năng cũng là chuyện thông thường.[12]

Trong khi mùa bầu cử 2016 lúc một đến gần, các tuyên bố chống Nga của phe Cộng Hòa lúc một táo bạo ồn ào. Nhiều ứng cử viên Cộng Hòa luôn tấn công vai trò của ứng cử viên Dân Chủ, Hillary Clinton, trong quyết định tái thiết kế quan hệ với Mạc Tư Khoa [“reset” of ties with Moscow], một nỗ lực hâm nóng các quan hệ ngày nay được xem như một thất bại. Như nguyên Thống Đốc bang Texas, Rick Perry, đã tuyên bố trong tháng 4-2015, Hillary Clinton là người đã mang dấu ấn “reset” đến Điện Cẩm Linh.”[13]

Nếu bất cứ ứng cử viên Cộng Hòa nào, khác hơn Rand Paul, đắc cử trong năm 2016, chủ nghĩa chống Nga có thể trở thành đề tài chính trong chính sách đối ngoại với hậu quả khôn lường. Như một trang mạng bảo thủ [conservative website]đã ghi nhận trong tháng 6-2015, “Không một lãnh đạo nước ngoài nào thu hút làn sóng chỉ trích của đảng Cộng Hòa nhiều hơn Putin. Thông điệp của”các ứng cử viên” [đảng Cộng Hòa] rất rõ ràng: Nếu bất cứ ứng cử viên [Cộng Hòa] nào đắc cử tổng thống, quan hệ của Hoa Kỳ với Nga sẽ trở nên tiêu cực hơn rất nhiều.”[14]

QUAN ĐIỂM LÂU DÀI

Bất cứ ai sẽ thắng trong năm 2016, những gì sử gia Đại Học Yale, Paul Kennedy, đã gọi “giàn trải quá mỏng của đế quốc” [imperial overstretch] chắc chắn sẽ tiếp tục là một thực tế áp đảo đối với Hoa Thịnh Đốn. Tuy nhiên, các bạn luôn có thể tin chắc một tiêu điểm của sự chú ý và tài nguyên lớn lao hơn đối với một trong hai quốc gia đang là ứng viên số một trên danh sách các đối thủ của Hoa Thịnh Đốn.

Một chiến thắng của phe Dân Chủ do Hillary Clinton dẫn đầu sẽ có nhiều cơ may đưa đến tiêu điểm Trung Quốc như đe dọa lâu dài và lớn lao nhất, trong thực tế, sẽ được nhấn mạnh nhiều hơn.

Ngược lại, một chiến thắng của phe Cộng Hòa có thể có nhiều phần chắc tôn vinh Nga lên ngôi vị kẻ thù số một.

Đối với những ai trong chúng ta đang sinh sống bên ngoài Hoa Thịnh Đốn, lựa chọn nầy hình như có thể mang lại ít tác động tức thì hơn. Ngân sách quốc phòng sẽ gia tăng trong cả hai trường hợp; cũng như hiện nay, quân đội sẽ không ngừng được hoán chuyển giữa các điểm nóng trên hành tinh, và cứ thế tiếp tục. Tuy nhiên, về lâu về dài, xin đừng nghĩ sự lựa chọn của các bạn sẽ không có gì quan trọng.

Lựa chọn gia tăng chống đối Nga chắc hẳn sẽ đem lại một bầu không khí tương tự Chiến Tranh Lạnh, ảm đạm, khó tiên đoán, đầy nghi ngờ, phô trương uy lực, và nhiều đợt khủng hoảng. Nhiều binh sĩ Hoa Kỳ sẽ được giàn trải qua Âu Châu; vũ khí hạt nhân của Hoa Kỳ cũng có thể trở lại Âu Châu; và phô trương lực lượng, hạt nhân hay quy ước, sẽ gia tăng. [Chúng ta đã biết , Moscow gần đây đã loan báo quyết định tăng thêm 40 tên lửa đạn đạo liên lục địa vào kho vũ khí hạt nhân vốn đã rất ấn tượng; và chúng ta cũng còn nhớ đề nghị của Nghị Sĩ Cruz bố trí các tên lửa đạn đạo đến Đông Âu]. Đối với những ai trong chúng ta còn nhớ Chiến Tranh Lạnh thực sự trước đây, những gì vừa kể không phải là những điềm lành.

Một tiêu điểm tân trang chống đối Trung Quốc cũng không kém phần bất an toàn. Khuynh hướng nầy cũng đòi hỏi phải giàn trải các lực lượng hải và không quân phụ trội đến Thái Bình Dương và nguy cơ va chạm với sự hiện diện quân sự ngày một gia tăng của Trung Quốc trong vùng Đông và Nam Hải. Hợp tác về mậu dịch và biến đổi khí hậu cùng với kinh tế toàn cầu có thể lâm nguy, trong khi dòng chảy tư tưởng và dân chúng Đông và Tây có thể bị giảm thiểu nhiều hơn. Trong một dấu hiệu đáng lo ngại của thời đại, Trung Quốc gần đây đã loan báo những cắt xén mới trong hoạt động của các tổ chức phi chính phủ ngoại quốc. Mặc dù sở hữu ít vũ khí hạt nhân hơn Nga, Trung Quốc cũng đang canh tân kho vũ khí, và nguy cơ va chạm hạt nhân chắc chắn cũng sẽ gia tăng.

Tóm lại, các chọn lựa chính sách toàn cầu của Hoa Kỳ, sau năm 2016, có thể được mô tả như ngày một u ám, ảm đạm, và hỗn loạn, dù đã được chú tâm nhiều hơn. Đa số nhân dân Hoa kỳ sẽ bị ảnh hưởng tiêu cực dưới bất cứ kịch bản nào, mặc dù giới nhà thầu quốc phòng và các ngành liên hệ trong giới, Tổng Thống Dwight Eisenhower là người đầu tiên đặt tên “tập đoàn quân sự-kỹ nghệ” [military-industrial complex], sẽ luôn thủ lợi. Các nhu cầu quốc nội như y tế, giáo dục, hạ tầng cơ sở, và môi trường, luôn phải gánh chịu mọi hậu quả tiêu cực, trong khi viễn tượng hòa bình và biến đổi khí hậu sẽ ngày một đen tối.

Một xứ sở không một kế hoạch mạch lạc để phát huy quyền lợi quốc gia là một điều thê thảm. Tuy nhiên, như chúng ta có thể khám phá trong những năm sắp tới, tệ hại hơn nữa là một quốc gia triền miên trên bờ khủng hoảng và xung đột với một xứ cạnh tranh đang được trang bị vũ khí hạt nhân và luôn bị vây hãm.

 

Nguyễn Trường

Irvine, California, U.S.A.

03-7-2015

 

 

 

 

 

[1] . “Who can doubt that Russia will do what it pleases if its aggression goes unanswered?”

[2] In countering Putin, he noted, “our alliance [NATO], our solidarity, and our actions are essential if we want to preserve the fundamental principles of our international order, an order that free nations have sacrificed so much to build.”

[3] For many in the Obama administration, however, it is not Russia but China that poses the greatest threat to American interests. They feel that its containment should take priority over other considerations. If the U.S. fails to enact a new trade pact with its Pacific allies, Obama declared in April, “China, the 800-pound gorilla in Asia, will create its own set of rules,” further enriching Chinese companies and reducing U.S. access “in the fastest-growing, most dynamic economic part of the world.”

[4] In the wake of the collapse of the Soviet Union, the military strategists of a seemingly all-powerful United States — the unchallenged “hyperpower” of the immediate post-Cold War era — imagined the country being capable of fighting full-scale conflicts on two (or even three fronts) at once.

[5] The shock of the twenty-first century in Washington has been the discovery that the U.S. is not all-powerful and that it can’t successfully take on two major adversaries simultaneously (if it ever could). It can, of course, take relatively modest steps to parry the initiatives of both Moscow and Beijing while also fighting ISIS and other localized threats, as the Obama administration is indeed attempting to do. However, it cannot also pursue a consistent, long-range strategy aimed at neutralizing a major adversary as in the Cold War. Hence a decision to focus on either Russia or China as enemy number one would have significant implications for U.S. policy and the general tenor of world affairs.

[6] In light of Putin’s ruthlessness, said Senator John McCain, chairman of the Senate Armed Services Committee and a major advocate of a Russia-centric posture, the president’s unwillingness to better arm the Ukrainians “is one of the most shameful and dishonorable acts I have seen in my life.”

[7] “There should be… no mistake about this — the United States will fly, sail, and operate wherever international law allows.”

[8] Laying out the new strategy in 2011, Clinton noted, “The Asia-Pacific has become a key driver of global politics.  Stretching from the Indian subcontinent to the western shores of the Americas… it boasts almost half of the world’s population [and] includes many of the key engines of the global economy.” As the U.S. withdrew from its wars in the Middle East, “one of the most important tasks of American statecraft over the next decade will therefore be to lock in substantially increased investment — diplomatic, economic, strategic, and otherwise — in the Asia-Pacific region.”

[9] “My guidance is clear,” Obama told the Australian parliament that same November. “As we plan and budget for the future, we will allocate the resources necessary to maintain our strong military presence in this region. We will preserve our unique ability to project power and deter threats to peace.”

[10] “No matter how many hotspots emerge elsewhere, we will continue to deepen our enduring commitment to this critical region,” National Security Adviser Susan Rice declared in November 2013.

[11]“In the heart of Europe, we see Russia emboldened by a significant modernization of its military, resurrecting old imperial ambitions, and intent on conquest once again. For the first time in seven decades on this continent, a sovereign nation has been invaded and its territory annexed by force. Worse still, from central Europe to the Caucasus, people sense Russia’s shadow looming larger, and in the darkness, liberal values, democratic sovereignty, and open economies are being undermined.

[12]McCain’s views are shared by many of the Republican candidates for president. Jeb Bush, for instance, described Putin as “a ruthless pragmatist who will push until someone pushes back.” Senator Ted Cruz, when asked on Fox News what he would do to counter Putin, typically replied, “One, we need vigorous sanctions… Two, we should immediately reinstate the antiballistic missile batteries in Eastern Europe that President Obama canceled in 2009 in an effort to appease Russia. And three, we need to open up the export of liquid natural gas, which will help liberate Ukraine and Eastern Europe.” Similar comments from other candidates and potential candidates are commonplace.

[13] “She’s the one that literally brought the reset button to the Kremlin.”

[14] “No leader abroad draws more Republican criticism than Putin does,” a conservative website noted in June. “The candidates’ message is clear: If any of them are elected president, U.S. relations with Russia will turn even more negative.”

Advertisements