BỆNH GHIỀN CHIẾN TRANH VÀ SIÊU CƯỜNG DUY NHẤT

Mùa hè năm 2002, các quan chức hàng đầu trong chính quyền Bush đã biết rõ: Hoa Kỳ sắp xâm lăng Iraq. Lúc đó họ đang trong giai đoạn hoạch định, nhưng phải đợi đến mùa thu mới phát động chiến dịch thuyết phục Quốc Hội và nhân dân Mỹ để củng cố hậu thuẩn.

Đối với họ, đây là việc làm quá dễ dàng. Quân đội Hoa Kỳ đối đầu với đội quân khập khiễng của Saddam Hussein!  Như lời một ủng hộ viên Tân Bảo Thũ, việc đó dễ như trở bàn tay.

Tuy vậy, một gương mặt then chốt đã tỏ ra hoài nghi. Theo Bob Woodward của báo Washington Post, Bộ Trưởng Ngoại Giao Colin Powell đã cảnh cáo tổng thống: “Ngài sắp là sở hữu chủ kiêu hãnh 25 triệu dân. Ngài sẽ sở hữu hy vọng, ước nguyện, và các vấn đề khác của họ. Ngài sẽ sở hữu tất cả.”[1]  Woodward cũng đã ghi nhận: “Trong chỗ riêng tư, Powell và Thứ Trưởng Ngoại Giao Richard Armitage đã gọi điều nầy là quy luật “Vựa Đồ Gốm”: Bạn làm vỡ vật gì, bạn [sẽ phải] sở hữu vật đó.”[2]

Trong thực tế, Vựa Đồ Gốm đã không hề có quy luật nầy, nhưng những gì có thể nghĩ lại như “quy luật Powell” đã xác thực hơn cả Powell đã có thể tưởng tượng. Thật vậy, một khi tình hình ngày một mất ổn định rồi đổ vỡ vô vọng, lúc đó không có cách gì đảo ngược được cuộc xâm lăng và “quyền sở hữu Iraq” đã chứng tỏ phải được thừa kế. Tổng thống kế nhiệm đã đắc cử một phần là nhờ đã chống đối cuộc chiến và cam kết, sau khi vào Văn Phòng Bầu Dục, sẽ chấm dứt chiến tranh và triệt thoái hẳn quân đội Hoa Kỳ, giờ đây đã là “sở hữu chủ không chút kiêu hãnh Chiến Tranh Iraq 3.0”. Và nếu có một quốc gia tan nát, thì đó chính là Iraq.

Cuối cùng, quy luật Powell đã dần dà được mở rộng đến mọi xứ quân đội Hoa Kỳ đã liên tiếp “đến trợ giúp mãi cho đến ngày nay”, kể cả Afghanistan, Yemen, và Libya. Trong mỗi trường hợp, hy vọng ở Hoa Thịnh Đốn đã tăng cao. Trong mỗi trường hợp, xứ đó đã tan nát. Trong mỗi trường hợp, Hoa Kỳ cuối cùng đã phải sở hữu xứ sở quan theo một phương cách lúc một kinh tởm. Tồi tệ hơn hết, trong không một trường hợp nào Hoa Thịnh Đốn có thể chịu chấm dứt chiến tranh bằng cách nầy hay cách khác, hoặc với Lực Lượng Đặc Biệt, phi cơ không người lái, hay trong trường hợp Iraq, với tất cả các phương cách vừa kể và hàng nghìn huấn luyện viên mới đã được gửi đến giúp vực dậy một quân đội,  do chính quyền Bush tạo lập và đầu tư trên 25 tỉ mỹ kim,  đã rệu rã .

Hoàn toàn thất bại có thể là câu chuyện của Hoa Thịnh Đốn trong thế kỷ XXI trong Vùng Trung Đông Nới Rộng và Bắc Phi. Tuy vậy, một cách nào đó, bài học duy nhất hình như cần phải học vẫn là: trên bình diện quân sự, nhiều hơn — không bao giờ ít hơn –còn cần phải làm.

HOA KỲ NHÌN ĐÂU CŨNG THẤY CHIẾN TRANH

Chiến tranh chống ma túy. Chiến tranh chống nghèo đói. Chiến tranh Afghanistan. Chiến tranh Iraq. Chiến tranh chống khủng bố. Sai lầm lớn nhất trong chính sách của Mỹ, đối ngoại và đối nội, là luôn nhìn mọi thứ như chiến tranh. Khi tâm lý chiến tranh ngự trị, trạng thái tinh thần đó sẽ lựa chọn vũ khí và chiến thuật cho bạn. Nó sẽ hạn chế khuôn khổ thảo luận trước khi bắt đầu; trả lời các câu hỏi trước khi được đặt ra.

Khi  định nghĩa một việc gì đó như chiến tranh, định nghĩa tự nó buộc bạn phải sử dụng quân đội [hay lực lượng cảnh sát đã được quân sự hóa, nhà tù hay trại giam, và các hình thức cưỡng chế khác] như dụng cụ căn bản của chính sách. Bạo lực trở thành phương tiện của quyết định, toàn thắng như mục tiêu. Bất cứ ai gợi ý trái ngược đều bị gán cho nhãn hiệu người đang mơ, chủ hòa, hay ngay cả phản bội.

Một cách vắn tắt, chiến tranh là phương cách giản dị hóa vĩ đại. Nó có thể hữu hiệu khi bạn đang chiến đấu chống lại các đe dọa quân sự sống còn [như trong Đệ Nhị Thế Chiến]. Nhưng chiến tranh không còn hữu hiệu khi bạn định nghĩa mọi vấn đề như một vấn đề sống còn và rồi tuyên chiến với các vấn đề xã hội phức tạp [tội phạm, nghèo khổ, nha phiến] hay các ý tưởng và tín ngưỡng [Hồi Giáo cực đoan].

HOA KỲ GÂY CHIẾN KHẮP NƠI

Chúng ta thử xét xem cuộc chiến Afghanistan — không phải cuộc chiến trong thập kỷ 1980 khi Hoa Thịnh Đốn dồn tài nguyên và vũ khí hỗ trợ Phong Trào Thánh Chiến chính thống [fundamentalist Mujahideen] với mục đích đẩy Liên Bang Xô Viết vào vũng-lầy-kiểu-Việt-Nam, mà đợt gần đây hơn bắt đầu ngay sau biến cố 11/9.

Cần nhớ những gì đã khởi động cuộc chiến là các vụ tấn công bởi “19 không tặc” [15 trong số nầy là công dân Saudi Arabia] đại diện cho một tổ chức với kích cỡ khiêm tốn, thiếu mọi đặc trưng của một quốc gia, nhà nước, hay chính quyền. Đã hẳn, cũng còn có phong trào Taliban chính thống lúc đó đang kiểm soát phần lớn Afghanistan — một phong trào đã trỗi dậy từ đống tro tàn của cuộc chiến trước đó cũng do Hoa Kỳ và đã hỗ trợ cũng như cung cấp nơi ẩn náu, mặc dù ít nhiều miễn cưỡng, cho Osama bin Laden.

Với hình ảnh hai tháp đôi ở New York đang sụp đổ, đút cháy tim gan tập thể của Hoa Kỳ, ý tưởng Hoa Kỳ có thể đáp ứng bằng một hành động cảnh sát quốc tế, nhằm quét sạch các tên tội phạm khỏi các đường phố toàn cầu, trong phút chốc đã bị loại ra khỏi mọi bàn luận. Thay vào đó, những gì đang ám ảnh tâm thức các quan chức hàng đầu của chính quyền Bush là “sự trả thù với một cuộc chiến toàn diện chống khủng bố toàn cầu lớn lao mang tính thế hệ”[3]. Mục tiêu hoàn toàn được quân sự hóa không những chỉ để loại trừ al-Qaeda mà còn bất cứ một nhóm khủng bố nào bất cứ ở đâu trên hành tinh, “ngay cả khi Hoa Kỳ đã khởi động một thử nghiệm xây-dựng-quốc-gia-toàn-diện-với-bạo-lực ở Afghanistan.”[4] Sau hơn 13 năm bi thiết, cuộc chiến-kiêm-thử-nghiệm đó vẫn tiếp diễn với tổn phí choáng ngợp và với các kết quả tuyệt đối gây thất vọng.

Trong lúc tâm lý chiến tranh toàn cầu ngày một được củng cố, chính quyền Bush cũng đã xâm lăng Iraq. Lực lượng quân sự với kỹ thuật tiền tiến nhất hành tinh, một lực lượng Tổng Thống Bush đã gọi là “lực lượng giải phóng nhân loại lớn nhất thế giới chưa từng biết,”[5] đã được vận dụng để mang lại “dân chủ” và “Pax Americana” [Hòa Bình Do Mỹ”] cho Trung Đông.

Đã hẳn, Hoa Thịnh Đốn đã từng xung đột với Iraq kể từ “Chiến Dịch Bảo Tố Sa Mạc” trong các năm 1990-1991, nhưng những gì đã bắt đầu như một cuộc đảo chính quân sự [còn được biết đến như “một cuộc hành quân chặt đầu”] bởi một cường quốc bên ngoài, một nỗ lực lật đổ Saddam Hussein và thanh toán quân lực và đảng chính trị của ông ta, chẳng bao lâu đã biến thái và trở thành cuộc chiếm đóng dài lâu và một thí nghiệm chính trị và xã hội với công trình xây-dựng-quốc-gia-với-bạo -lực. Cũng như với Afghanistan, cuộc thí nghiệm Iraq với chiến tranh hiện vẫn còn tiếp diễn với phí tổn khổng lồ và với các kết quả còn tai họa hơn rất nhiều.[6]

Hồi Giáo Cực Đoan đã rút tỉa sức mạnh từ các cuộc chiến do Hoa Kỳ lãnh đạo. Thực vậy, các thành phần Hồi Giáo cực đoan đơn cử sự hiện diện mang tính xâm lăng và thường trực của quân đội và các căn cứ quân sự Hoa Kỳ ở Trung Đông và Trung Á,  như xác nhận lòng tin của họ: lực lượng quân sự của Hoa Kỳ đang theo đuổi một thánh chiến chống lại họ, và nói rộng ra, chống lại chính Hồi Giáo nói chung. Và trong một dịp lỡ lời mang tính tiết lộ, Tổng Thống Bush quả thật có lần đã gọi cuộc chiến chống khủng bố là một “thánh chiến” hay “thập tự chinh”.[7]

Trong bối cảnh đó, một cuộc chiến như vậy, theo định nghĩa, đã là một nỗ lực đang thất bại, bởi lẽ mỗi một thắng lợi chỉ giúp tăng cường lập trường kẻ thù của Hoa Thịnh Đốn. Và người Mỹ đơn thuần không còn có cách nào để chiến thắng một cuộc chiến như vậy ngoại trừ phải chấm dứt chiến tranh. Tuy vậy, phương cách hành động nầy [chấm dứt chiến tranh] sẽ không bao giờ hiện diện trên bảng liệt kê những giải pháp [lựa chon] khả dĩ, ai cũng biết, các quan chức Hoa Thịnh Đốn luôn phải lựa chọn chiến lược của mình. Làm như vậy, trong địa hạt tư duy chiến tranh, có thể có nghĩa đang thú nhận thất bại [mặc dù thất bại thực sự đã xẩy ra ngay thời điểm vấn đề từ đầu đã được định nghĩa như chiến tranh].

Giới lãnh đạo Mỹ luôn khăng khăng kiên trì với bạo lực điên cuồng như thế, ít ra một phần vì lẽ điều họ sợ nhất là phải thú nhận thất bại. Xét cho cùng, trong chính trị hoặc văn hóa Mỹ, không có gì xấu xa hơn bị gán nhãn hiệu thất bại trong chiến tranh — một vị lãnh đạo “cắt ngang và tháo chạy,”  someone “cuts and runs.”

Trong thập kỷ 1960, mặc dù luôn rất âu lo về tình hình cuộc chiến đang tiếp diễn bất lợi ở Việt Nam, Tổng Thống Lyndon B. Johnson đã đặt ra “kim bản vị” với quyết tâm sẽ không bao giờ là vị tổng thống Hoa Kỳ đầu tiên thất bại trong chiến tranh, nhất là trong một “xứ bé nhỏ đáng khinh như Việt Nam.”[8]

Vì vậy, Johnson đã kiên trì, nhưng rồi cuộc xung đột cũng đã khiến ông biến thái và trở thành tổng thống chiến bại và đã hủy hoại nhiệm kỳ tổng thống của chính ông.

Mặc dù Lyndon B. Johnson đã gây ra chiến tranh, như sử gia George Herring đã ghi nhận, LBJ đã không hề muốn được biết đến như một “tổng thống chiến tranh” [war president].

Hai thế hệ sau, một người gốc Texas khác, George W. Bush, đã vồ vập danh hiệu “tổng thống chiến tranh” với nhiệt tình. Bush cũng đã “quyết tâm thắng cuộc chiến khi tình hình đã bắt đầu trở nên tồi tệ”. Chú tâm vào cuộc dấy loạn ngày một lớn lao ở Iraq trong mùa hè 2003, Bush đã không chút sờn lòng trước thử thách. “Bring’em on!” [Hảy mang chúng đến], Bush đã tuyên bố không mấy khác phương cách một Clint Eastwood/Dirty Harry.

Giờ đây, Hoa Thịnh Đốn đang gửi quân đội trở lại Iraq lần thứ ba để đối đầu với một cuộc trỗi dậy ngay cả khó khăn hơn nhiều: Nhà Nước Hồi Giáo [Islamic State], một hình thức cực đoan của đạo Hồi, một phong trào nguyên thủy đã được thai nghén và nuôi dưỡng trong Camp Bucca, một nhà lao quân sự của Hoa Kỳ ở Iraq.

Và như để chính thức hóa,Tổng Thống Obama cũng đã chấp nhận tính ưu việt của chiến tranh trong chính sách của Hoa Kỳ. Trong diễn văn nhận Giải Thưởng Nobel 2009 ở Oslo, Obama đã đưa ra lời biện hộ kích động vai trò và thành tích của Hoa Kỳ như “siêu cường quân sự duy nhất của thế giới”:

“Dù cho các lỗi lầm chúng tôi đã phạm phải là gì đi nữa, thực tế rõ rệt vẫn là: Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ đã giúp bảo đảm an ninh toàn cầu trong hơn sáu thập kỷ với máu của công dân chúng tôi và sức mạnh của vũ khí chúng tôi. Tinh thần phục vụ và hy sinh của nam nữ quân nhân của chúng tôi đã giúp  thăng tiến hòa bình và thịnh vượng từ Đức Quốc đến Triều Tiên, và củng cố dân chủ ở nhiều nơi như vùng Balkans. Chúng tôi đã chấp nhận gánh nặng nầy, không phải vì chúng tôi tìm cách áp đặt ý muốn của chúng tôi. Chúng tôi đã làm như vậy vì quyền lợi sáng suốt riêng tư  — bởi lẽ chúng tôi tìm kiếm một tương lai tốt đẹp hơn cho con cháu của chúng tôi, và chúng tôi tin đời sống của chúng sẽ tốt đẹp hơn nếu con cháu của các dân tộc khác cũng có thể sinh sống trong tự do và thịnh vượng.”[9]

Đó là thời khắc tái định hình nhiệm kỳ của tổng thống Obama phù hợp với sắc thái chiến tranh đặc trưng của Hoa Kỳ đã hiện diện ở khắp nơi. Đó là phủ nhận thực sự ngay chính”hy vọng” và “đổi thay,” và cũng là lúc bắt đầu thời kỳ chuyển tiếp của Obama, từ chương trình ám sát bằng phi cơ không người lái của CIA đến vai trò tổng tư lệnh ám sát, [into the role of assassin-in-chief].

THEO ĐUỔI THÁNH CHIẾN

Giới lãnh đạo Hoa Kỳ gần đây đã chứng tỏ đang có một cái gì đó chung với các đối tác Hồi Giáo cực đoan: tất cả đều định nghĩa mọi thứ, minh thị hay mặc nhiên, như một thập tự chinh, một thánh chiến, một chiến tranh thiêng liêng. Nhưng các phương pháp bạo lực được sử dụng để theo đuổi các thánh chiến khác nhau, dù là Hồi Giáo hay thế tục, đều đơn thuần nhằm kéo dài bất tận và thường đưa đến những cuộc  chiến trầm trọng hơn.

Thử nhớ lại những gì gọi là các cuộc chiến của Hoa Kỳ và xét xem có bất cứ một tiến bộ nào có thể đo lường được trong bất cứ cuộc chiến nào.

Lyndon Johnson tuyên bố “chiến tranh chống nghèo đói” [war on poverty] năm 1964. Năm mươi mốt năm sau, số người nghèo đến tuyệt vọng ngày một đông đáng ngạc nhiên; và trong thế kỷ mới, hố cách biệt — giữa những người nghèo nhất ngày một đông và số người giàu nhất ngày một ít —  lúc một sâu rộng như vực thẳm. Kể từ thời Tổng Thống Ronald Reagan, trong thực tế, chúng ta đã có thể nói đến “cuộc chiến chống người nghèo”, thay vì “cuộc chiến chống nghèo đói”.

Cuộc chiến chống ma túy? Bốn mươi bốn năm sau khi Tổng Thống Richard Nixon tuyên bố cuộc chiến chống ma túy, vẫn còn hàng triệu người trong nhà tù, tổn phí hàng tỉ mỹ kim, và ma túy ngày một lan tràn trên các đường phố Hoa Kỳ.

Và chiến tranh chống khủng bố? Mười ba năm sau ngày phát động cuộc chiến chống khủng bố toàn cầu, con số ít ỏi và rãi rác trong vài địa phương  trong năm 2001 ngày nay đã lan tràn khắp nơi và đã họp thành cả một “caliphate” [trước đây chỉ trong trí tưởng tượng của Osama bin Laden] trong vùng Trung Đông; ISIS đang tung hoành trong nhiều nơi ở Iraq và Syria; al-Qaeda ngày một gia tăng ở Yemen; Libya ngày một bất ổn định và chia-năm-xẻ-bảy giữa các nhóm ngày một cực đoan, thường dân vô tội vẫn phải thiệt mạng trong các cuộc tấn công bởi phi cơ không người lái.

Và cuộc chiến Afghanistan? Nạn mua bán nha phiến ngày một gia tăng nhanh chóng; Taliban hồi sinh; và Afghanistan ngày một bất ổn định.

Còn cuộc chiến Iraq? Cạnh tranh, kình địch, hận thù giữa các tôn giáo, các giáo phái, và các sắc dân, với đủ loại vũ khí Hoa Kỳ ngày một nhiều, thi đua giết hại lẫn nhau trong một xứ gần như đã mất hầu hết các cơ năng vận hành.

Điều chắc chắn duy nhất trong các “cuộc chiến” của Hoa Kỳ là khả năng bạo lực tiếp diễn không ngừng, ngay cả khi các sứ mệnh khởi thủy ngày một tơi tả.

Chính các phương pháp Hoa Kỳ sử dụng và tâm thức giới lãnh đạo chọn lựa đang bảo đảm các xung đột tiếp diễn. Lý do là vì: ghiền và lạm dụng ma túy không thể chinh phục bằng tuyên chiến; nghèo đói hay khủng bố cũng vậy; Hồi Giáo cực đoan cũng không thể đánh bại với giải pháp xây dựng quốc gia và chiến tranh. Thực vậy, Hồi Giáo cực đoan đã bành trướng trong điều kiện chiến tranh do chính Hoa Thịnh Đốn khởi động. Với chiến tranh trong phương cách quen thuộc hiện nay, bạn chỉ đổ dầu vào lửa và bất ổn định ngày một lan tràn.

Chính tâm thức mới là yếu tố quan trọng. Ở Iraq và Afghanistan, những nơi đối với đa số người Mỹ chỉ hiện hữu bên trong một ma trận”chiến tranh”, Hoa Kỳ đã xâm lăng, tấn công, sa lầy, đổ tài nguyên bừa bãi vào các vấn đề, và biến thành các vùng sa mạc …, và gọi đó là “hòa bình.” Sau đó, giới lãnh đạo Hoa Kỳ hành động như đã bị bất ngờ trong khi vấn đề chỉ ngày một thêm nan giải.

Điều đáng buồn là ca từ vẫn không thay đổi, đơn điệu, và buồn tẻ: chiến tranh ngày một dồn dập và tệ hại; và vì chính quyền Mỹ luôn nôn nóng tìm kiếm kết quả qua mỗi chu kỳ bầu cử mới. Đó là phương thức nhất thiết phải đưa Hoa Kỳ đến thất bại.

NHỮNG  NÉT ĐẶC TRƯNG KỲ LẠ TRONG CÁC CUỘC CHIẾN MỚI CỦA HOA KỲ:

Trong lịch sử, khi một quốc gia tuyên chiến, hành động thường có mục đích động viên ý chí quốc dân, như Hoa Kỳ đã làm trong Đệ Nhị Thế Chiến. Tuy nhiên, đi kèm các cuộc chiến của Hoa Kỳ gần đây là một thúc đẩy không nên động viên quần chúng, ngay cả khi các “chuyên gia” đã được quyền chiến đấu và tài nguyên của dân chịu thuế đã được rót vào nhà nước”an ninh quốc gia,” và tập đoàn quân sự-kỹ nghệ [military-industrial complex], để duy trì chiến tranh.

Các cuộc chiến gần đây, dù chống ma túy hay trong vùng Trung Đông Nới Rộng, không bao giờ được trình bày như một thách thức “We the people” có thể tham gia và cùng giải quyết, nhưng như một sinh hoạt chỉ những ai được nhìn nhận có đủ chuyên môn và được ủy nhiệm — và vũ khí — mới có thể hiểu hay chiến đấu. George W. Bush đã tóm lược tâm thức nầy một cách kinh điển sau biến cố 11/9 khi khuyến khích người Mỹ cứ tiếp tục  mua sắm, du lịch,  thăm viếng Disney World …, và phó mặc các cuộc chiến cho giới chuyên môn.

Tóm lại, chiến tranh đã trở thành một hình thức kiểm soát xã hội. Phải có vũ khí và một thứ phù hiệu nào đó bạn mới có thể phát biểu ý kiến và được lắng nghe; bằng không, bạn chẳng có ảnh hưởng gì.

Vả chăng, những gì đem lại tính độc đáo cho các cuộc chiến mới của Mỹ lúc nầy là chẳng bao giờ thấy được dứt điểm,  vì lẽ cái gì tạo thành “chiến thắng” trong các cuộc chiến chống ma túy hay khủng bố , những cuộc chiến, theo định nghĩa,  luôn rất khó lòng có thể chận đứng.

Những kẻ yếm thế có thể nói: chẳng có gì mới mẻ ở đây.  Lý do:  từ lâu Hoa Kỳ đã luôn trong tình trạng chiến tranh và người Mỹ vẫn luôn là một dân tộc bạo động! Cũng có chút ít sự thật trong đó. Nhưng ít ra các thế hệ người Mỹ tiền bối đã không  bao giờ tự định nghĩa bằng chiến tranh.

Những gì Hoa Kỳ cần hiện nay là một chương trình ngăn chặn các lực thôi thúc và nuôi dưỡng bệnh ghiền chiến tranh. Điểm khởi hành đối với Hoa Thịnh Đốn và người Mỹ nói chung,  rõ ràng là phải thú nhận ngay trong bước đầu,  họ đang đối diện một vấn đề một mình họ sẽ không thể giải quyết: “Chào quý vị, tôi là Uncle Sam và tôi là người đang mắc bệnh ghiền chiến tranh. Vâng, tôi đang ghiền chiến tranh. Tôi biết bệnh nầy đang hủy diệt chính tôi và nhiều người khác. Nhưng tôi không thể ngừng — nếu không có sự trợ giúp của quý vị.”[10]

Đổi thay thực sự thường bắt đầu với lời thú nhận: với thái độ khiêm tốn; với sự chấp nhận không phải mọi thứ đều trong khả năng kiểm soát của chính mình, dù mình đang giận dữ đến đâu. Quả thật, tức giận đến mức bạo lực chỉ làm vấn đề thêm trầm trọng. Hoa Kỳ cần một tự thú nhận như thế. Chỉ lúc đó, người Mỹ mới có thể bắt đầu tự dứt bỏ chiến tranh.

Nguyễn Trường

Irvine, California, U.S.A.

07-7-2015

[1] “You are going to be the proud owner of 25 million people.  You will own all their hopes, aspirations, and problems.  You’ll own it all.”

[2] “Privately, Powell and Deputy Secretary of State Richard Armitage called this the Pottery Barn rule: You break it, you own it.”

[3] …vengeance via a full-scale, global, and generational “war on terror.

[4] …even as the U.S. embarked on a full-fledged experiment in violent nation building in Afghanistan.

[5] …the greatest force for human liberation the world has ever known

[6]  Washington had, of course, been in conflict with Iraq since Operation Desert Storm in 1990-1991, but what began as the equivalent of a military coup (aka a “decapitation” operation) by an outside power, an attempt to overthrow Saddam Hussein and eliminate his armed forces and party, soon morphed into a prolonged occupation and another political and social experiment in violent nation-building.  As with Afghanistan, the Iraq experiment with war is still ongoing at enormous expense and with even more disastrous results.

[7] Indeed, radical Islamists cite the intrusive and apparently permanent presence of American troops and bases in the Middle East and Central Asia as confirmation of their belief that U.S. forces are leading a crusade against them — and by extension against Islam itself.  (And in a revealing slip of the tongue, President Bush did indeed once call his war on terror a “crusade.”

[8] …especially in a “damn little pissant country” like Vietnam.

[9] “Whatever mistakes we have made, the plain fact is this: the United States of America has helped underwrite global security for more than six decades with the blood of our citizens and the strength of our arms. The service and sacrifice of our men and women in uniform has promoted peace and prosperity from Germany to Korea, and enabled democracy to take hold in places like the Balkans. We have borne this burden not because we seek to impose our will. We have done so out of enlightened self-interest — because we seek a better future for our children and grandchildren, and we believe that their lives will be better if other peoples’ children and grandchildren can live in freedom and prosperity.”

[10] “Hi, I’m Uncle Sam and I’m a war-oholic.  Yes, I’m addicted to war.  I know it’s destructive to myself and others.  But I can’t stop — not without your help.”

Advertisements