MỸ-IRAN VÀ THỎA ƯỚC HẠT NHÂN 14-7-2015

 

Các bạn không nên quá âu lo về các chi tiết của thỏa ước hạt nhân trong tháng 7 giữa Hoa Kỳ và Iran. Những gì quan trọng là cán cân quyền lực ở Trung Đông vừa thay đổi trong nhiều phương cách đầy ý nghĩa.

Hoa Thịnh Đốn và Tehran đã loan báo thỏa ước hạt nhân vào ngày 14-7- 2015, và dĩ nhiên, vài chi tiết vẫn còn được giữ kín.

Đã hẳn, chính quyền Obama đã thương nghị song song với Trung Quốc, Nga, Anh, Pháp và Đức, có nghĩa Iran và 5 chính quyền khác phải chấp thuận “Kế Hoạch Hành Động Toàn Diện Chung chi tiết dài 159 trang”; Liên Hiệp Quốc, cũng phải ký vào thỏa ước, và cũng đã đồng ý các biện pháp chấm dứt các chế tài chống lại Iran.[1]

Nếu đại đa số chúng ta không thể trong phút chốc trở thành chuyên gia về máy ly tâm và tỉ suất làm giàu uranium, các cơ quan truyền thông, trong hai tháng tới — thời gian Quốc Hội sẽ thảo luận và cân nhắc chuẫn y thỏa ước — chắc chắn sẽ giúp chúng ta sáng tỏ. Các chiến lược kiểm soát sẽ được thảo luận. Người Do Thái sẽ lớn tiếng báo động khải huyền đang cận kề. Và nhiều người rất có thể sẽ âu lo mọi bất trắc nguy cơ đang tiềm ẩn trong chi tiết. Trong các buổi luận đàm hay “talk shows” chủ nhật hàng tuần, các diều hâu chủ chiến sẽ không ngừng la lối ác mộng sắp xẩy ra cũng như sự yếu bóng vía của tổng thống Obama và bộ trưởng ngoại giao của ông, John Kerry.

Tuy vậy, chẳng ai đủ quan tâm để tự hỏi tại sao các quyết định phát động hay tiếp tục các cuộc chiến trong vùng Trung Đông trước đây của tổng thống đã không được tiếp nhận với ít ra cùng thái độ hoài nghi như các nỗ lực ngăn chặn chiến tranh của chính tổng thống lần nầy.

Dù sao, cũng có hai điểm thiết yếu cần được loại khỏi tất cả các cuộc đàm luận giận dữ sắp tới: trước hết, chẳng có gì trong chuyện nầy là quan trọng; và thứ hai, các bất trắc nguy cơ không hiện diện trong các chi tiết, mặc dù tổng thống quả thực rất có thể xuất hiện trong các “talk shows ngày chủ nhật”.

Đây là thực tế quan trọng nhất: vào đúng lúc thiết yếu và không một tiếng súng, Hoa Kỳ và Iran đã với tới điểm ngoặt ra khỏi kỷ nguyên công khai thù nghịch: Thỏa ước hạt nhân 14-7-2015 đã buộc chặt cả hai quốc gia vào nhiều năm thương thảo và duy trì cánh cửa rộng mở cho một quan hệ tốt đẹp hơn. Hiểu được ý nghĩa của điều nầy đòi hỏi phải nhìn lại quá khứ.

VÀI NÉT LỊCH SỬ NGẮN GỌN VỀ QUAN HỆ HOA KỲ-IRAN

Dạng thức ngắn: quan hệ đáng ghê tởm trong gần bốn thập kỷ.

Một dạng thức đôi chút dài hơn, tuy vậy, có thể đã bắt đầu từ 1953 khi CIA đã giúp giàn dựng một cuộc đảo chính lật đổ một thủ tướng được bầu chọn một cách dân chủ, Mohammad Mosaddegh. Là một lãnh tụ thế tục — loại người các quan chức Hoa Kỳ đã luôn mơ tưởng kể từ sau khi các lãnh tụ tôn giáo Ayatollahs lên nắm quyền trong năm 1979 — Mosaddegh đã tìm cách quốc hữu hóa kỹ nghệ năng lượng Iran. Vào thời điểm đó, đây là điều không thể chấp nhận đối với Hoa Thịnh Đốn và Luân Đôn. Vì vậy, Mosaddegh đã phải ra đi.

Để thay thế, Hoa Thịnh Đốn đã dựng lên một lãnh đạo bù nhìn xứng đáng với các cộng hòa chư hầu nhơ nhuốc nhất, Shah Mohammad Reza Pahlavi. Hoa Kỳ đã hỗ trợ Pahlavi duy trì một lực lượng cảnh sát bí mật đặc biệt tàn nhẫn, the Savak, trực tiếp nhằmcác đối lập chính trị, dân chủ hay gì khác, kể cả các đối lập với nhãn hiệu Hồi Giáo cực đoan xa lạ đối với Tây Phương vào thời điểm đó. Hoa Thịnh Đốn độc chiếm dầu lửa của Reza Pahlavi, bán cho ông các vũ khí tân tiến ông vồ vập. Trong suốt thập kỷ 1970, Hoa Kỳ cũng đã cung cấp nhiên liệu và lò phản ứng hạt nhân cho Iran trong khuôn khổ sáng kiến “Nguyên Tử vì Hòa Bình” [Atoms for Peace] của Tổng Thống Dwight Eisenhower, một sáng kiến đã khởi động chương trình hạt nhân của Iran trong năm 1957.

Năm 1979, tiếp theo sau nhiều tháng biểu tình xuống đường của dân chúng Iran và hiểu được số phận của mình trên các đường phố Tehran, Shah Reza Pahlavi đã tẫu thoát ra nước ngoài. Lãnh tụ tôn giáo Ayatollah Khomeini, đang sống lưu vong, đã trở về giữ vai trò lãnh đạo quốc gia trong những gì được biết như Cuộc Cách Mạng Hồi Giáo [Islamic Revolution].

Sinh viên Iran sau nhiều thập kỷ giận dữ chống đối Hoa Kỳ về vai trò của Shah Reza Pahlavi và cảnh sát bí mật của ông, đã tiến chiếm Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ ở Tehran. Trong biến cố một số người Mỹ thuộc lứa tuổi nào đó có thể đã quên, 52 nhân viên Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ đã bị bắt giữ làm con tin trong khoảng 15 tháng.

Để trả đũa, Hoa kỳ đã làm nhiều việc, quan trọng nhất là đã giúp nhà độc tài Iraq, Saddam Hussein, trong cuộc chiến với Iran trong thập kỷ 1980; và trong năm 1988, một tuần dương hạm trang bị tên lửa trong vùng Vịnh Ba Tư đã bắn hạ một máy bay dân sự Iran Air, sát hại 290 hành khách trên phi cơ. Hoa Thịnh Đốn đã cho biết đó là một tai nạn.

Năm 2003, khi Iran tìm cách tiếp cận Hoa Thịnh Đốn, tiếp theo sau các thành công quân sự của Mỹ ở Afghanistan, Tổng Thống George W. Bush đã tuyên bố Iran là một thành viên của “Trục Ma Quỷ” [Axis of Evil].

Sau đó, Iran đã tài trợ, huấn luyện, và trợ giúp các lãnh đạo một cuộc trỗi dậy của phái Shiite chống lại Hoa Kỳ ở Iraq. Ăn miếng trả miếng, lực lượng Hoa Kỳ đã đột kích một cơ sở ngoại giao Iran ở Iraq và bắt giữ một vài nhân viên. Khi Hoa Kỳ từ từ rút lực lượng ra khỏi Iraq, Iran đã gia tăng hỗ trợ các lãnh đạo thân-Tehran ở Baghdad. Khi chương trình hạt nhân của Iran lớn mạnh, Hoa Kỳ đã tấn công các máy vi tính của Iran với “malware”, phát động những gì trong thực tế là một “cyberwar” đầu tiên trong lịch sử. Cùng lúc, Hoa Thịnh Đốn đã áp đặt các chế tài kinh tế lên Iran và khu vực sản xuất năng lượng thiết yếu của xứ nầy.

Một cách vắn tắt, trong 36 năm qua, quan hệ Hoa Kỳ-Iran đã luôn thù nghịch, thiếu xây dựng, và thường nhỏ nhen. Cả hai quốc gia đã phải trải nghiệm nhiều bất lợi, và luôn theo đuổi chính sách xung đột.

IRAN: MỘT ĐẠI CƯỜNG ĐANG LÊN

Mặc dù người Mỹ đã nỗ lực phá hoại tối đa, Iran hiện vẫn là một trong hai đại cường trong vùng Trung Đông. Và là đại cường đang lên bên cạnh Hoa Kỳ.

Một nỗ lực với dấu ấn hằn sâu trong lịch sử phần lớn đã bị lãng quên: Hoa Kỳ đã lầm lỡ lao vào kỷ nguyên hậu-11/9 với hai cuộc xâm lăng, thanh toán dễ dàng các xứ thù nghịch nòng cốt của Iran dọc hai biên giới phía Đông và phía Tây — Saddam Hussein ở Iraq và Taliban ở Afghanistan. Kẻ thù thứ nhất đã “vĩnh viễn ra đi”; kẻ thù thứ hai trong những ngày gần đây có vẻ khắm khá hơn, tuy vậy, cũng chẳng có đủ khả năng đe dọa Iran trong tương lai gần. Các cuộc chiến vẫn tiếp tục hao tốn xương máu mà chẳng đem lại một chiến thắng hứa hẹn nào; và tình trạng mỏi mệt về quân sự và kinh tế của Hoa Kỳ sau đó cũng đã bào mòn ước muốn trong chính quyền Bush đối với các tấn công quân sự chống lại Iran.

Gần một thập kỷ đã trôi qua và Hoa Thịnh Đốn hiện đang âm thầm hỗ trợ ít ra vài nỗ lực quân sự của Iran ở Iraq chống lại Nhà Nước Hồi Giáo đang trỗi dậy. Chính quyền Obama hình như ít ra một phần nào đã làm ngơ trong khi Tehran tìm cách đem lại một chế độ bù nhìn ở Baghdad. Trong một chuổi các thất bại chiến lược ở Yemen, Lebanon, và Syria, Hoa Thịnh Đốn hầu như mong muốn và chờ đợi Iran giữ một vai trò lãnh đạo trong các xứ đó. Và trong thực tế, Iran hiện đang làm việc nầy.

Và trên đây cũng chỉ mới là một bắt đầu trên bề mặt quá trình đi lên của Iran trong khu vực.

Mặc dù các tác động tai hại của biện pháp chế tài kinh tế do Hoa Kỳ đạo diễn, sức mạnh thực sự của Iran vẫn tiềm tàng ở quốc nội. Đây có lẽ là quốc gia Hồi Giáo ổn định nhất trong vùng Trung Đông. Iran đã tồn tại ít nhiều trong các biên giới hiện hữu hàng nghìn năm nay. Đây là quốc gia hầu như thuần nhất trên các bình diện sắc dân, tôn giáo, văn hóa, và ngôn ngữ, với các sắc dân thiểu số tương đối ổn định và trong vòng kiểm soát. Mặc dù phần lớn vẫn đang dưới quyền lãnh đạo chính trị của hàng giáo phẩm, Iran, tuy vậy, vẫn luôn trải nghiệm một chuổi các giai đoạn chuyển tiếp bầu cử dân chủ kể từ cuộc cách mạng 1979. Nhiều ý nghĩa hơn hết, không như hầu hết các quốc gia khác trong vùng Trung Đông, các lãnh đạo Iran không cai trị trong sợ hãi một cuộc cách mạng Hồi Giáo. Iran đã từng trải nghiệm một cuộc cách mạng như thế.

IRAN: LÝ DO KHÔNG SỞ HỮU VŨ KHÍ HẠT NHÂN

Đến đây, tưởng cũng nên bàn chút ít về vũ khí hạt nhân.

Chỉ những kẻ mù đi trong đêm tối mới không lưu ý một thực tế rõ ràng trong vùng Trung Đông Nới Rộng: các chế độ, dưới tác động chống đối của Hoa Kỳ, thường phải gánh chịu nhiều hỗn loạn và đổ vỡ một khi đánh mất các chương trình hạt nhân của mình. Do Thái đã sử dụng không lực triệt phá chương trình nguyên tử của Saddam Hussein cũng như của Syria. Libya của Muammar Qaddafi cũng đã phải trải nghiệm tàn phá trước hành động thay đổi chế độ của Mỹ và NATO sau khi tự nguyện từ bỏ tham vọng hạt nhân của mình. Cùng lúc, không một ai ở Tehran mà không thấy rõ: thành viên Bắc Hàn trong “câu lạc bộ thay đổi chế độ” đã ly khai câu lạc bộ nầy một khi trở thành một quốc gia nguyên tử.

Chúng ta chỉ cần lưu ý các lý do chính đáng trên đây để hiểu được tại sao Iran phải phát triển một chương trình vũ khí nguyên tử hùng mạnh — và hiện nay vẫn không hoàn toàn từ bỏ.

Thực vậy, kể từ năm 2002, Hoa Thịnh Đốn không một ngày nào chịu ngơi nghỉ vung gươm múa kiếm đe dọa Iran. Hoa Kỳ cũng không phải là quốc gia duy nhất các lãnh tụ Hồi Giáo e ngại. Giới lãnh đạo Hồi Giáo ở Iran tin tưởng: Do Thái, với kho vũ khí hạt nhân, không được xác nhận nhưng quá hiện thực, một ngày nào đó có thể có đủ khả năng và ước muốn phát động một cuộc tấn công bằng tên lửa, phi cơ, hay tàu ngầm.

Hiện nay, thế giới cũng đang chứng kiến một sự thật oái oăm khác: lưc lượng quân sự của Hoa Kỳ và nguyên tử của Do Thái cũng giúp chúng ta hiểu được tại sao Iran sẽ luôn là một nhà nước trên thềm hạt nhân — một nhà nước luôn nắm giữ hầu hết hay tất cả các kỹ thuật và vật liệu cần thiết để sản xuất một vũ khí nguyên tử, nhưng đã lựa chọn không hoàn tất các bước đi cuối cùng.

Chỉ cần là một xứ rất cận kề: vào bất cứ thời điểm nào cũng sẵn sàng có được một vũ khí hạt nhân — được gọi là “thời gian đột phát” hay “breakout time”. Nếu Iran đã tiến đến quá gần, với thời gian đột phát quá ngắn, hay đã thật sự trở thành [quốc gia] nguyên tử, một tấn công bởi Do Thái và/hay Hoa Kỳ có thể là điều gần như khó tránh. Iran không phải là một quốc gia thuộc thế giới thứ ba. Các khu vực thành thị và hạ tầng cơ sở là những gì các chiến dịch không kích của Do Thái và Hoa Kỳ đã được thiết kế để triệt tiêu.

Vì vậy, chúng ta có thể gọi chương trình hạt nhân của Iran là một “trò chơi hù dọa”, một trò chơi trong đó các tay chơi liên can luôn biết được ai có thể là người sẽ chạy làng hay chớp mắt trước.

THỎA HIỆP HẠT NHÂN HOA KỲ-IRAN

Như vậy, nếu Iran đã không bao giờ là một cường quốc hạt nhân thực sự, và nếu thế giới đã chung sống với một Iran như một quốc gia trên thềm nguyên tử một thời gian cho đến nay, chúng ta có thể đặt câu hỏi: thỏa hiệp trong tháng 7 là một thỏa ước quan trọng hay không quan trọng?

Có hai câu trả lời: không quan trọng và quan trọng.

(1) Không thực sự quan trọng, vì lẽ: thỏa hiệp đem lại rất ít thay đổi trong thực tế. Nếu các điều khoản của thỏa ước được thực thi thật sự tốt đẹp như chúng ta hiện đang hiểu, không có gian lận, lúc đó Iran sẽ từ tốn dịch chuyển từ thời gian đột phá dài từ hai đến ba tháng hiện nay đến thời gian đột phá dài hơn đôi chút: một năm hay hơn nữa.

Iran hiện không có vũ khí nguyên tử, Iran không thể có nguyên tử nếu không có thỏa ước,Iran sẽ không có nguyên tử với thỏa ước.

Nói một cách khác, thỏa ước Vienna đã thành công loại bỏ một vũ khí tiêu diệt hàng loạt chưa bao giờ hiện hữu.

(2) Thực sự quan trọng, vì lẽ: lần đầu tiên trong nhiều thập kỷ, hai đại cường trong vùng Trung Đông đã mở rộng cửa cải thiện quan hệ với nhau. Nếu không có chiếc dù chính trị của thỏa ước Vienna, Tòa Bạch Ốc có thể sẽ không bao giờ dám đi tiếp bước tiến thứ hai. Đây là bước tiến đột phá bởi lẽ qua đó Hoa Kỳ và Iran xác quyết cùng chia sẻ quyền lợi lần đầu tiên, ngay cả công nhận các xung đột đang tiếp diễn giữa hai xứ ở Syria, Yemen, và nhiều nơi khác.

Đó là phương cách các địch thủ cùng làm việc: không ai cần thương thảo các thỏa ước tương tự “thỏa ước tháng 7” với thân hữu. Thực vậy, sự mô tả của Tổng Thống Obama về phương cách thỏa ước sẽ được thể hiện — dựa trên kiểm tra, không phải trên lòng tin [based on verification, not trust]– đã biểu hiện một lựa chọn ngôn từ chính xác. Một nhắc nhở đến Tổng Thống Ronald Reagan, người từng sử dụng cụm từ “tin nhưng kiểm chứng” [trust but verify] trong năm 1987 khi ký “Hiệp Ước Lực Lượng Nguyên Tử Tầm Trung”[Intermediate-Range Nuclear Forces Treaty] với người Nga.

Thỏa ước đã đạt được theo phương cách của trường phái cổ điễn, cùng ngồi xuống bàn hội nghị trong nhiều ngày tháng và thương thảo. Các nhà ngoại giao đã tham khảo các chuyên gia. Nam nữ trong trang phục dân sự, không phải trong quân phục, giữ vai trò thương nghị. Quá trình — có lẽ không mấy quen thuộc đối với thế hệ hậu 11/9, trưởng thành trong môi trường cường lực và đe dọa “quý bạn hoặc theo chúng tôi hoặc chống đối chúng tôi”[2] — được gọi là thỏa hiệp. Đó là phần thiết yếu của một kỷ năng ngày một xa lạ đối với người Mỹ: ngoại giao.

Mục tiêu không phải để đánh bại một kẻ địch, tìm các giải pháp nhanh chóng, giải quyết từng vấn đề song phương, hay ngay cả đạt thành quả trao trả bốn người Mỹ đang bị Iran cầm giữ.

Mục tiêu là thành đạt một giải pháp tương thuận cho một vấn đề chuyên biệt. Một nghệ thuật quản lý nhà nước khéo léo như thế chứng tỏ phương cách khéo léo của chính sách ngoại giao cử tri Hoa Kỳ rất hiếm khi thấy được sử dụng kể từ khi Barack Obama được giải thưởng hòa bình năm 2009. Cuba là ngoại lệ duy nhất.

TẤT CẢ ĐỀU CƠ SỞ TRÊN NỀN TẢNG KINH TẾ-TÀI CHÁNH

Trong khi kỷ năng ngoại giao khéo léo đã lèo lái Hoa Kỳ và Iran đến thỏa hiệp, cùng chia sẻ quyền lợi kinh tế-tài chánh là những gì sẽ được phát huy và là hậu thuẩn dài lâu cho quan hệ.

Iran, với trữ lượng dầu thô được xác nhận lớn thứ tư và hơi đốt thiên nhiên lớn thứ hai của hành tinh, đang sẵn sàng tung ra thị trường thế giới ngay sau khi các chế tài được tháo gỡ. Giới trẻ ở Iran được biết đang ao ước một can dự rộng lớn hơn với Tây Phương. Sự tháo gỡ các chế tài sẽ cho phép giới doanh thương Iran tiếp cận với tư bản toàn cầu, và giới doanh thương từ bên ngoài tiếp cận với các thị trường thương mãi Iran.

Kể từ tháng 11-2014, người Trung Quốc, chẳng hạn, đã tăng gấp đôi số đầu tư vào Iran. Các công ty Âu Châu, kể cả Shell và Peugeot, đang thương nghị với các quan chức Iran. Apple đang tiếp xúc với các nhà phân phối ở Iran. Đức Quốc đã gửi một phái đoàn đến Tehran. Các quảng cáo xe hơi Âu châu các loại và các sản phẩm xa xỉ đang bắt đầu tái xuất hiện ở thủ đô Iran. Hàng trăm tỉ USD, trị giá các kỹ thuật và khả năng chuyên môn nước ngoài, cần được tậu mãi vì Iran cần canh tân các hạ tầng cơ sở dầu lửa và hơi đốt thiên nhiên đã xuống cấp hoặc đã lỗi thời. Nhiều phi cơ chở hành khách đã được sử dụng trong vài thập kỷ và cần được thay thế. Các hãng hàng không dân sự ở Dubai đang cần mở thêm đường bay để thỏa mãn nhu cầu ngày một gia tăng. Dòng chảy tư bản sẽ phát triển…

Sau đó, thực tế sẽ thật sự khó khăn cho các thành phần diều hâu chủ chiến ở Hoa Thịnh Đốn, Tel Aviv, hay Riyadh, để kiểm soát tình hình. Đó chính là các lý do khiến họ luôn căm tức, lồng lộn, và gầm thét.

NHỮNG ÂU LO THỰC SỰ CỦA NGƯỜI DO THÁI VÀ NGƯỜI SAUDI

Cả người Do Thái lẫn người Saudi Arabia không bao giờ thực sự chờ đợi phải trao đổi các tên lửa với một Iran được trang bị vũ khí nguyên tử; các chống đối căn bản khác đối với thỏa ước cũng chẳng mấy xác đáng và hữu hiệu.

Các nhà phê bình đã nói rõ thỏa hiệp sẽ chỉ kéo dài 10 năm — các điều khoản hay dự liệu nòng cốt sẽ có hiệu lực trong 10 năm, sau đó sẽ giảm dần. Đã hẳn, một thập kỷ là một đời người trong chính trị, lối tư duy nầy cũng giả thiết, vì lịch sẽ trải dài trong suốt 10 năm và một ngày, sau đó Iran sẽ ra khỏi thỏa hiệp và sẽ vượt ra ngoài vòng luật pháp. Đây quả là một luận cứ kỳ quặc.

Cũng tương tự như vậy, những luận cứ — thỏa hiệp sẽ khởi động một cuộc chạy đua võ trang nguyên tử trong vùng Trung Đông — cũng đã lỗi thời. Do Thái đã có bom nguyên tử từ lâu, mà vẫn không khởi động bất cứ một chạy đua vũ trang hạt nhân nào.

Nhiều người đang âm thầm âu lo Iran sẽ thiết kế một “Bom Hồi Giáo,” họ đã bỏ quên sự kiện: Pakistan, với đôi tay vướng bẩn vì dung dưỡng khủng bố và với sự hiện diện của nhiều thành phần Hồi Giáo cực đoan, cũng đã là một cường quốc hạt nhân ít ra từ năm 1998, và cũng không khởi động một “chạy đua vũ trang” nào ở Trung Đông.

Trong thực tế, những gì đang gây âu lo cho người Do Thái và người Saudi là Iran sẽ gia nhập cộng đồng các quốc gia như một đối tác ngoại giao và thương mãi với Hoa Kỳ, với Á Châu, và với Âu Châu. Tham dư vào một đợt tấn công ngoại giao tiếp theo sau thỏa ước hạt nhân, các quan chức Iran đã đoan chắc với các quốc gia Hồi Giáo huynh đệ trong khu vực là họ hy vọng thỏa ước sẽ có thể dẫn đến một sự hợp tác ngày một sâu rộng hơn.

Chính sách của Hoa Kỳ trong vùng Vịnh Ba Tư, đã từng chỉ quan tâm đến an ninh và nhu cầu năng lượng của riêng mình, cuối cùng cũng đã có thể bắt đầu dần dà thích ứng vào thực tế Âu-Á ngày một hội nhập và đa diện.

Một Iran hùng mạnh quả thật có thể là một đe dọa đối với hiện trạng “status quo” — do đó, gây xáo trộn ở Tel Aviv và Riyadh — chỉ khác là đây không phải một Iran quân sự. Quyền lực thực sự trong thế Kỷ XXI, ngoại trừ chiến tranh toàn diện, đang cơ sở trên sức mạnh kinh tế-tài chánh.

Thỏa ước tháng 7 đã xác nhận bản-đồ quyền-lực thế-giới -thực -tế của Trung Đông. Thỏa ước không biến Iran và Hoa Kỳ thành hai quốc gia đồng minh khắng khít sinh tử. Ngược lại, thỏa ước đang thực sự mở rộng cửa cho hai tay chơi cấp vùng lớn nhất trực tiếp trao đổi và phát triển các quan hệ mậu dịch và tài chánh, những quan hệ sẽ khiến mọi xung đột ngày một xa thực tế hơn.

Sau hơn ba thập kỷ thù nghịch giữa Hoa Kỳ-Iran trong một thế giới cực kỳ hay thay đổi và bất ổn định, “thỏa ước hạt nhân tháng 7 giữa Hoa Kỳ-Iran” thực sự là bước ngoặt cực kỳ quan trọng nhân loại đã và đang mong đợi.

 

Nguyễn Trường

Irvine, California, U.S.A.

06-8-2015

 

 

[1] The Obama administration negotiated alongside China, Russia, Great Britain, France, and Germany, which means Iran and five other governments must approve the detailed 159-page “Joint Comprehensive Plan of Action.” The U.N., which also had to sign off on the deal, has already agreed to measures to end its sanctions against Iran.

[2] …on the machismo of “you are either with us or against us”.

Advertisements