NHÀ NƯỚC BIỆT LỆ, HIỂM HỌA NGUYÊN TỬ, VÀ HÒA BÌNH THẾ GIỚI

hay IRAN vs HOA KỲ-ISRAEL-SAUDI ARABIA

Trên khắp thế giới, rất nhiều người hiện đang cảm nhận bớt căng thẳng, nhẹ nhỏm, và lạc quan, với thỏa ước hạt nhân đạt được ở Vienna giữa Iran và các đại cường P5+1 — năm quốc gia thành viên Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc có quyền phủ quyết và Cộng Hòa Liên Bang Đức. Hầu hết thế giới rõ ràng đang chia sẻ thẩm định của Hiệp Hội Kiểm Soát Vũ Khí Hoa Kỳ: “Kế Hoạch Hành Động Toàn Diện Liên Ngành đang thiết kế một phương thức hùng mạnh và hữu hiệu nhằm chận đứng mọi phương thức nhờ đó Iran có thể thủ đắc vật liệu cần thiết để sản xuất vũ khí hạt nhân trong nhiều thế hệ, và hệ thống kiểm chứng nhanh chóng để khám phá và ngăn ngừa mọi nỗ lực bởi Iran bí mật theo đuổi các vũ khí hạt nhân dài lâu trong tương lai.”[1]

Tuy nhiên, hiện vẫn còn có khá nhiều ngoại lệ quan trọng đối với thái độ hồ hởi chung: Hoa Kỳ và các đồng minh thân cận cấp vùng — Do Thái và Saudi Arabia. Một hậu quả của tình trạng nầy là các đại công ty Hoa Kỳ khó thể cùng đổ xô đến Tehran bên cạnh các đối tác Âu Châu. Giới quyền lực và công luận Hoa Kỳ đang chia sẻ lập trường của hai đồng minh cấp vùng, và vì vậy, đang ở trong tình trạng kích động thực sự đối với “hiểm họa từ Iran”.

Giới bình luận gia Hoa Kỳ, kể cả các thành phần tương đối ôn hòa, hầu như luôn lớn tiếng tuyên bố Iran là “đe dọa nghiêm trọng nhất đối với hòa bình thế giới.” Ngay đến các thành phần hậu thuẩn thỏa ước cũng đã tỏ rõ thái độ thận trọng, trước tầm nghiêm trọng đặc biệt của đe dọa nầy. Xét cho cùng, làm cách nào để giới cầm quyền Hoa Kỳ có thể tin người Iran với những “thành tích kinh khũng về gây hấn, bạo động, phá rối, và lừa dối?”

Làn sóng chống đối bên trong chính giới mạnh đến nổi dư luận công đã chuyển dịch nhanh chóng từ “hậu thuẩn có ý nghĩa” đối với thỏa ước xuống còn 50-50 hay mức quân bình. Phe Cộng Hòa gần như đồng thanh chống đối thỏa ước. Các cuộc bầu cử sơ bộ trong nội bộ đảng Cộng Hòa hiện nay cũng đã chứng tỏ thái độ qua các lý do công bố.

Nghị sĩ Ted Cruz, một trí thức hiếm hoi trong số các ứng cử viên tổng thống đông đảo của đảng Cộng Hòa, đã cảnh cáo: Iran vẫn có thể sản xuất các vũ khí hạt nhân và một ngày nào đó có thể sử dụng vũ khí nguyên tử để thử nghiệm một Bom Điện Từ “có thể làm sụp đổ toàn bộ hệ thống điện dọc bờ biển phía Đông Hoa Kỳ”, sát hại hàng triệu người Mỹ.”[2]

Hai ứng cử viên nhiều hy vọng thắng cử nhất, nguyên Thống Đốc Florida Jeb Bush và Thống Đốc Wisconsin, Scott Walker, đang tranh đua chủ trương hành động trải thảm bom mìn lên Iran ngay sau khi được đắc cử hay ngay sau phiên họp Nội Các đầu tiên. Một ứng cử viên khác với chút ít kinh nghiệm về chính sách đối ngoại, Lindsey Graham, cũng đã mô tả thỏa ước như một “án tử hình đối với Do Thái,”  một bất ngờ đối với giới tình báo và các nhà phân tích chiến lược Do Thái và là điều Graham biết rất rõ là hoàn toàn vô nghĩa. Vấn đề cần được nêu lên, do đó, rõ ràng liên hệ đến động lực phe nầy đang thực sự theo đuổi.

Tưởng cũng nên nhắc lại phe Cộng Hòa từ lâu đã từ bỏ mọi hình thức sinh hoạt của một đảng Quốc Hội bình thường. Như nhà bình luận chính trị bảo thủ được kính nễ, Norman Ornstein, thuộc American Enterprise Institute cánh hữu, đã nhận xét: họ đã trở thành “lực lượng nổi dậy cực đoan” hiếm khi tìm cách tham dự các sinh hoạt chính trị bình thường của Quốc Hội.

Kể từ  thời Tổng Thống Ronald Reagan, giới lãnh đạo đảng, với hậu thuẩn tài chánh của giới cực giàu và các đại công ty, đã có thể thu hút cử tri qua nỗ lực huy động phần quần chúng trước đây không phải là một lực lượng chính trị có tổ chức.  Chúng ta đang nói đến vai trò  các tín đồ cơ đốc giáo, phái Phúc Âm cực đoan, hiện đang chiếm  đa số cử tri Cộng Hòa; những thành phần còn rơi rớt lại từ các tiểu bang có nhiều nô lệ trước đây;  dân bản địa  âu lo đang bị loại dần khỏi phần xứ sở cho thành phần Anglo-Saxon da trắng ; và những nhóm khác,  đang biến các cuộc bầu cử sơ bộ của đảng Cộng Hòa thành những khối ngày một xa rời dòng chính của xã hội tân tiến — mặc dù  không phải  khỏi dòng chính của xứ hùng mạnh nhất trong lịch sử thế giới.

Tuy nhiên, sự tách xa chuẫn mực toàn cầu đã vượt khỏi các giới hạn của “phong trào trỗi dậy cực đoan” của đảng Cộng Hòa. Chẳng hạn, xuyên qua quang phổ, đang có thỏa hiêp tổng quát với kết luận thực tế của Tướng Martin Dempsey, chủ tịch các Tham Mưu Trưởng Liên Quân: thỏa ước Vienna không “ngăn ngừa Hoa Kỳ tấn công các cơ sở của Iran nếu các quan chức quyết định Iran đang gian lận thỏa ước,” mặc dù một tấn công quân sự đơn phương rất “khó thể xẩy ra” nếu Iran xử sự đứng đắn.

Nguyên chuyên gia thương thuyết Trung Đông Dennis Ross của Clinton và Obama khuyến cáo, “Iran phải không còn gì để nghi ngờ nếu chúng ta thấy họ đang hướng tới một vũ khí [hạt nhân], hành động đó sẽ khởi động khả năng sử dụng vũ lực,” ngay cả sau khi thỏa ước đã chấm dứt, khi trên lý thuyết Iran được tự do làm những gì ước muốn. Trong thực tế, sự hiện diện của một điểm chấm dứt sau 15 năm, theo Dennis Ross, là “vấn đề duy nhất cực lớn của thỏa ước.” Dennis cũng gợi ý Hoa Kỳ nên cung cấp cho Do Thái các phi cơ B-52 ném bom hạt nhân và các bom xuyên thủng các “bunker,” để tự vệ trước ngày thỏa ước chấm dứt.

ĐE DỌA LỚN NHẤT

Phe chống đối thỏa ước hạt nhân, tuy vậy,  đã không đi đủ xa.

Vài thành phần ủng hộ thỏa ước cũng đã  làm rõ: “nếu thỏa ước Vienna muốn đem lại chút ít ý nghĩa, toàn bộ vùng Trung Đông cần phải gở bỏ mọi vũ khí tiêu diệt hàng loạt.” Tác giả của ý kiến nầy, Bộ Trưởng Ngoại Giao Iran, Javad Zarif, đã tuyên bố: “Iran, trong tư cách một quốc gia và đương kim chủ tịch Phong Trào Phi-Liên-Kết [các chính quyền chiếm đại đa số quần chúng trên toàn thế giới], đang sẵn sàng cộng tác với cộng đồng quốc tế để thành đạt các mục tiêu nầy, hiện hiểu rất rõ , trong quá trình, có lẽ sẽ gặp rất nhiều trở ngại do các thành phần nghi ngờ hòa bình và ngoại giao.” Zarif nói tiếp, Iran đã ký kết một thỏa ước hạt nhân lịch sử, và hiện đang đến lượt Do Thái, “quốc gia chưa chịu lên tiếng”[3]

Đã hẳn, Do Thái là một trong ba cường quốc nguyên tử, bên cạnh Ấn Độ và Pakistan, với chương trình nguyên tử được chính Hoa Kỳ tiếp tay và đang từ chối ký vào Thỏa Ước Cấm Phổ Biến vũ khí hạt nhân — [Nonproliferation Treaty – NPT].

Zarif đang nói đến hội nghị thường kỳ, tái duyệt NPT 5-năm một lần, đã chấm dứt trong thất bại trong tháng 4-2015 khi Hoa Kỳ [với sự hỗ trợ của Canada và Anh Quốc] một lần nữa đã chận đứng các nỗ lực xúc tiến một khu vực phi-vũ-khí-tiêu-diệt-hàng-loạt trong vùng Trung Đông. Các nỗ lực như thế đã do Ai Cập và các quốc gia Á Rập khác cỗ vũ từ 20 năm nay. Như Jayantha Dhanapala và Sergio Duarte, các gương mặt lãnh đạo phong trào phát huy các nỗ lực như thế tại NPT và các cơ quan Liên Hiệp Quốc khác, đã nhận xét trong bài viết, ” Liệu NPT Sẽ Có Một Tương Lai?,” đăng trong nhật báo của Liên Hiệp Kiểm Soát Vũ Khí [Arms Control Association]: “Sự chấp nhận thành công trong năm 1995 một quyết nghị thiết lập một khu-vực-phi-vũ-khí-tiêu-diệt-hàng-loạt [WMD] ở Trung Đông là yếu tố chính trong gói cho phép triễn hạn NPT vĩnh viễn.” NPT, tự nó, đã là  hiệp ước kiểm soát vũ khí quan trọng nhất. Nếu được thực thi,  NPT có thể chấm dứt hiểm họa các vũ khí hạt nhân.

Nhưng như Dhanapala và Duarte đã nêu rõ, sự thể hiện quyết nghị đã bị Hoa Kỳ chận đứng nhiều lần, gần đây nhất bởi Tổng Thống Obama trong năm 2010 và một lần nữa trong năm 2015, ” nhân danh một nhà nước đã từ chối vai trò thành viên  NPT và được biết một cách rộng rãi là quốc gia duy nhất trong khu vực đang sở hữu vũ khí nguyên tử” — một ám chỉ nhẹ nhàng và lễ độ đến Do Thái.  Thất bại nầy, họ hy vọng, sẽ không kết liễu hai mục tiêu  dài lâu và tiến bộ của NPT giúp tăng tốc giải giới nguyên tử và thiết lập một khu vực phi-WMD ở Trung Đông.”[4]

Một Trung Đông phi-vũ-khí-nguyên-tử có thể là phương cách minh bạch để giải quyết bất cứ một đe dọa khả dĩ nào của Iran và  nhiều sáng kiến quan trọng khác, đang lâm nguy do sự phá hoại liên tục trong  nỗ lực bảo vệ khách hàng Do Thái của Hoa Thịnh Đốn. Xét cho cùng, đây không phải là trường hợp duy nhất trong đó các cơ hội chấm dứt đe dọa khả dĩ của Iran đã bị Hoa Thịnh Đốn phá ngầm, nêu lên nhiều vấn đề những gì đang “đánh cược” hay lâm nguy.

Khi xét đến vấn đề nầy, điều hữu ích là phải xét xem cả hai giả thiết không nói ra trong tình hình và là các vấn đề rất hiếm khi được nêu lên. Thử xét một số giả thiết như thế, bắt đầu với giả thiết quan trọng nhất: Iran là đe dọa nghiêm trọng nhất đối với hòa bình thế giới.

Đây hầu như là một sáo ngữ trong giới quan chức và bình luận gia cao cấp Hoa Kỳ: Iran chiếm phần thưởng đen tối  nầy [Iran wins that grim prize].

Tuy vậy, vẫn  còn có một thế giới bên ngoài Hoa Kỳ với quan điểm không hề được dòng chính ở đây tường thuật. Có lẽ  đây mới là các quan điểm khá hữu ích. Theo các cơ quan thăm dò công luận hàng đầu [như WIN/Gallup International], giải thưởng cho “đe dọa nghiêm trọng nhất” đối với hòa bình thế giới,  đang do Hoa Kỳ giữ phần thắng. Phần còn lại của thế giới xem đây  mới là đe dọa nghiêm trọng nhất , với một biên độ khác biệt lớn lao. Vị trí thứ hai, thấp hơn rất nhiều, là Pakistan — một vị trí  đã nhận được phiếu của Ấn Độ làm gia tăng tầm vóc. Iran giữ địa vị số 3 thấp hơn hai vị trí kia, đồng hạng với Trung Quốc, Do Thái, Bắc Hàn, và Afghanistan.

HẬU THUẨN KHỦNG BỐ HÀNG ĐẦU CỦA THẾ GIỚI

Trở lại câu hỏi rõ rệt kế tiếp, đe dọa Iran trong thực tế là gì? Chẳng hạn, tại sao Do Thái và Saudi Arabia lại lo sợ vì Iran? Dù cho đe dọa là gì, đó khó thể là quân sự. Nhiều năm trước đây, tình báo Hoa Kỳ đã thông tin cho Quốc Hội: chi tiêu quân sự của Iran rất thấp so với các chuẫn mực trong khu vực, và các chủ thuyết chiến lược của Iran đều mang tính tự vệ — có nghĩa: được thiết kế để ngăn chặn tấn công. Cộng đồng tình báo Hoa Kỳ cũng phúc trình không có dấu hiệu Iran đang theo đuổi một chương trình nguyên tử thực sự và “chương trình nguyên tử của Iran và lòng mong ước giữ nguyên khả năng phát triển vũ khí hạt nhân, là phần chính yếu của chiến lược ngăn chặn”.[5]

Tạp chí uy tín SIPRI về vũ trang toàn cầu , như thường lệ, cũng đã xếp Hoa Kỳ luôn dẫn đầu các chi tiêu quân sự. Trung Quốc đứng thứ hai với 1/3 số chi tiêu của Hoa Kỳ. Nga và Saudi Arabia còn thấp hơn rất nhiều, nhưng vẫn cao hơn bất cứ quốc gia Tây Âu nào khác. Iran hầu như hiếm khi đáng quan tâm. Chi tiết đầy đủ được cung cấp trong phúc trình tháng 4-2015 của Trung Tâm Nghiên Cứu Chiến Lược và Quốc Tế [CSIS], phúc trình tìm thấy “một trường hợp kết luận: các xứ vùng Vịnh Á Rập đang giữ vị trí thuận lợi áp đảo đối với Iran trong cả hai địa hạt chi tiêu quân sự và tiếp cận các vũ khí tiền tiến.”[6]

Chẳng hạn, chi tiêu quân sự của Iran chỉ là một phân số của Saudi Arabia và thấp hơn rất xa so với số chi tiêu của United Arab Emirates [UAE]. Xét chung, số chi tiêu về vũ khí của các xứ thuộc Hội Đồng Hợp Tác Vùng Vịnh — Bahrain, Kuwait, Oman, Saudi Arabia, và UAE — gấp tám số chi tiêu của Iran, một tỉ số mất thăng bằng bắt đầu từ nhiều thập kỷ. Phúc trình CSIS còn ghi thêm: “Các xứ vùng Vịnh Á Rập đã và đang thũ đắc vài loại vũ khí tiền tiến và hữu hiệu nhất trên thế giới trong khi Iran đã bị buộc phải sống trong quá khứ, thường phải dựa trên các hệ thống được thủ đắc từ thời Shah Mohammed Reza Pahlavi [1941-1979].”[7] Nói một cách khác, loại vũ khí hoàn toàn hũ lậu. Đã hẳn, so với Do Thái, tình trạng mất quân bình còn lớn lao hơn rất nhiều. Chấp hữu loại vũ khí tiền tiến nhất của Hoa Kỳ và hầu như một căn cứ quân sự hải ngoại của siêu cường toàn cầu, Do Thái cũng còn có một kho vũ khí nguyên tử kếch sù.

Đã hẳn, Do Thái đang đối diện với đe dọa sống còn chỉ  bởi “các lời tuyên bố của Iran”: Lãnh tụ tôn giáo tối cao Khamenei và nguyên tổng thống Mahmoud Ahmadinejad đã đe dọa Do Thái với hủy diệt. Chẳng hạn, Ahmadinejad đã tiên đoán: “Với ơn Chúa [chế độ phục quốc] sẽ bị quét khỏi bản đồ.” Nói một cách khác, Ahmadinejad hy vọng thay đổi chế độ một ngày nào đó sẽ xẩy ra. Ngay cả điều nầy cũng vẫn kém xa so với các lời kêu gọi trực tiếp từ Hoa Thịnh Đốn và Tel Aviv về thay đổi chế độ ở Iran, đó là chưa nói gì đến các hành động  thực thi thay đổi chế độ. Đã hẳn, những hành động nầy đã thực sự diễn ra trong năm 1953, khi Hoa Kỳ và Anh Quốc đã tổ chức cuộc đảo chính quân sự lật đổ chính quyền đại nghị của Iran và áp đặt chính quyền độc tài của Shah, người đã tích lũy các thành tích nhân quyền tệ hại nhất hành tinh.

Những tội phạm nầy đã hẳn đã được biết đến bởi các độc giả các phúc trình của Amnesty International và các tổ chức nhân quyền, nhưng không phải bởi các độc giả các báo chí Hoa Kỳ, những cơ quan đã chỉ quan tâm nhiều đến các vi phạm nhân quyền ở Iran từ năm 1979 sau khi chế độ của Shah đã bị lật đổ.

Không một điều gì trên đây là một ngã rẽ ra khỏi chuẩn mực. Hoa Kỳ, như đã được biết rõ, nắm giữ chức vô địch  trên thế giới về thay đổi chế độ và Do Thái cũng không thua kém. Tàn phá lớn lao nhất trong các cuộc xâm lăng Lebanon trong năm 1982 là rõ ràng để thay đổi chế độ, cũng như để bám chặt các lãnh thổ chiếm đóng. Các duyên cớ đưa ra quả thật rất mong manh và lập tức sụp đổ. Điều nầy cũng chẳng có gì bất thường và khá độc lập với bản chất của xã hội — từ những than van trong Tuyên Ngôn Độc Lập về “Mọi Da Đỏ man rợ” tàn nhẫn, cho đến chính sách quốc phòng của Hitler trước nạn “khủng bố hoang dại” của người Ba Lan.

Không một nhà phân tích chính trị nghiêm chỉnh nào tin Iran có thể sử dụng, hay ngay cả đe dọa sử dụng, một vũ khí nguyên tử nếu có, vì như vậy, sẽ phải tức khắc đối diện với hủy diệt.

Tuy nhiên, trong thực tế vẫn có âu lo thực sự:  vũ khí hạt nhân có thể lọt vào tay các phe thánh chiến — không phải nhờ Iran, mà qua Pakistan, đồng minh của Mỹ. Trong nhật báo “the Royal Institute of International Affairs”, hai khoa học gia nguyên tử hàng đầu của Pakistan, Pervez Hoodbhoy và Zia Mian, đã viết: “các âu lo ngày một gia tăng — các chiến binh nắm được các vũ khí hay vật liệu hạt nhân và buông lỏng các thành phần khủng bố nguyên tử — đã đưa đến việc tạo lập một lực lượng đặc chuyên trên 20.000 quân nhân để canh gác các cơ sở hạt nhân. Tuy nhiên, không có lý do nào để giả thiết lực lượng nầy có thể được miễn nhiễm đối với các vấn đề liên kết với các đơn vị canh gác các cơ sở quân sự bình thường,” những cơ sở thường hay bị tấn công với sự “trợ lực từ bên trong.”[8]

Tóm lại, vấn đề thực sự hiện hữu, và chỉ khác là đã được cố tình chuyển dịch qua Iran, vì nhiều lý do.

Nhiều âu lo khác về đe dọa Iran bao gồm vai trò “quốc gia hậu thuẩn khủng bố hàng đầu,” chính yếu muốn nói đến hậu thuẩn dành cho Hezbollah và Hamas. Cả hai phong trào đã trỗi dậy nhằm đề kháng vai trò bạo động và gây hấn của Do Thái với sự hỗ trợ của Hoa Thịnh Đốn, một vai trò vượt quá bất cứ điều gì xấu xa tàn bạo quy trách cho cả hai, chưa nói gì đến thói quen thường tình của siêu cường áp đảo dù chỉ riêng đối với chiến dịch ám sát trên toàn cầu bởi phi cơ không người lái “drone” đang tìm cách khống chế [và giúp tăng cường] khủng bố trên toàn cầu.

Hai phong trào xấu xa bẩn thỉu [Hezbollah và Hamas], khách hàng của Iran, cũng chia sẻ “tội ác đã đắc thắng trong các cuộc tuyển cử tự do trong thế giới Á Rập”. Hezbollah ngay cả còn có tội đã buộc Do Thái phải rút khỏi sự chiếm đóng trái phép Nam Lebanon, vi phạm lệnh của Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc nhiều thập kỷ trước đây và dính líu một chế độ khủng bố phi pháp và đôi khi bạo động cực đoan. Dù nghĩ thế nào về Hezbollah, Hamas, và các tổ chức được Iran hậu thuản, Iran cũng khó thể có vị trí cao trong địa hạt hậu thuẩn khủng bố toàn cầu.

GÂY BẤT ỔN

Một âu lo khác, được nhắc tới tại Liên Hiệp Quốc bởi Đại Sứ Hoa Kỳ Samantha Power, là “tình trạng bất ổn định được Iran hỗ trợ ngoài chương trình nguyên tử.” Samantha đã phải tuyên bố: Hoa Kỳ sẽ tiếp tục soi xét tật xấu nầy. Bà Đại Sứ đã lặp lại lời bảo đảm do Bộ Trưởng Quốc Phòng Ashton Carter đã đưa ra khi đứng trên biên giới phía Bắc của Do Thái: “Chúng ta sẽ tiếp tục giúp Do Thái chống lại ảnh hưởng thâm độc của Iran khi hậu thuẩn Hezbollah, và Hoa Kỳ dành quyền sử dụng quân lực chống lại Iran khi thích hợp.

Phương cách Iran nhen nhúm bất ổn định có thể thấy được đặc biệt rõ ràng ở Iraq —  nơi, trong nhiều tội phạm khác,  Iran là quốc gia duy nhất đã tức khắc trợ giúp người Kurds tự vệ trước sự xâm lăng bởi các chiến binh Islamic State, ngay cả khi đang xây cất nhà máy điện trị giá 2,5 triệu USD trong thành phố cảng phía Nam Basra nhằm cung cấp điện lực trở lại mức độ đã đạt được trước cuộc xâm lăng 2003.

Đại Sứ Power, tuy vậy, vẫn sử dụng chuẫn mực: Do cuộc xâm lăng, hàng trăm nghìn đã tử vong và hàng triệu dân tỵ nạn đã phải di dân, các hành động tra tấn man rợ đã diễn ra — người Iraq đã so sánh sự tàn phá với cuộc xâm lăng của quân Mông Cổ trong thế kỷ XIII — biến Iraq thành một xứ không chút hạnh phúc theo các cuộc thăm dò công luận WIN/Gallup. Trong lúc đó, các xung đột giáo phái đã xẩy ra, xé nát toàn khu vực và đem lại cơ bản cho sự hình thành quái vật ISIS. Và tất cả những điều đó lại được gọi là “ổn định hóa”.

Tuy nhiên, chỉ các “hành động đáng xấu hỗ của Iran” đang nhen nhúm “bất ổn”. Sử dụng chuẫn mực đạt đến những thứ bậc hầu như siêu thực, như khi nhà bình luận có khuynh hướng tự do James Chace, nguyên biên tập viên báo Foreign Affairs, đã giải thích:  Hoa Kỳ đã tìm cách “bất ổn hóa chính quyền Marxist ở Chí Lợi, đã đắc cử qua một cuộc bầu cử tự do” vì lẽ “chúng ta đã quyết định tìm kiếm ổn định” dưới chế độ độc tài Pinochet.

Nhiều người đã lấy làm tức giận Hoa Thịnh Đốn lại đi thương thuyết với một chế độ đáng khinh bỉ như chế độ Iran với thành tích nhân quyền đáng sợ, và thay vào đó, thúc dục “chúng ta nên theo đuổi một liên minh do Hoa Kỳ bảo trợ giữa Do Thái và các xứ Sunni.” Vì vậy, Leon Wieseltier, một biên tập viên cộng tác với nhật báo tự do đáng kính, the Atlantic, người không thể che đậy lòng ghen ghét tận xương tủy đối với bất cứ những gì dính líu đến Iran. Với bộ mặt trơ trẻn, vị “trí thức tự do đáng kính” khuyến cáo Saudi Arabia [bên cạnh Saudi Arabia, Iran nhìn không mấy khác một thiên đường] và Do Thái, với những tội lỗi xấu xa ở Gaza và nhiều nơi khác, nên kết liên minh dạy cho Iran một lối xử sự tốt đẹp. Có lẽ sự khuyến cáo cũng không hoàn toàn phi lý khi chúng ta xem xét thành tích nhân quyền của các chế độ do Hoa Kỳ đã áp đặt và hậu thuẩn trên khắp thế giới.

Cho dù chính quyền Iran rõ ràng là một đe dọa cho người dân Iran, chính quyền đó vẫn không hề phá kỷ lục một cách đáng tiếc về phương diện nầy, không xuống đến mức thậm tệ của các đồng minh ưa thích của Hoa Kỳ. Tuy nhiên, điều nầy không thể là âu lo của Hoa Thịnh Đốn, và đã hẳn cũng không phải  của Tel Aviv hay Riyadh.

Tưởng cũng hữu ích để nhớ lại và chắc người Iran cũng vậy: không một ngày trôi qua kể từ 1953 trong đó Hoa Kỳ không gây hại cho người Iran. Xét cho cùng, ngay sau khi dân Iran lật đổ chế độ của Shah do Hoa Kỳ áp đặt trong năm 1979, Hoa Thịnh Đốn đã hậu thuẩn lãnh tụ Iraq Saddam Hussein, người đã có thể, trong năm 1980, phát động một cuộc tấn công sát hại dân Iran. Tổng Thống Reagan đã đi quá xa trong việc phủ nhận tội ác lớn lao của Saddam, cuộc tấn-công-chiến-tranh-hóa-học đối với quần chúng Kurdish, Reagan đã đổ tội cho Iran. Khi Saddam bị đưa ra xét xử tội phạm dưới sự bảo trợ của Hoa Kỳ, tội phạm kinh tởm đó, cũng như nhiều tội phạm khác trong đó Hoa Kỳ là tòng phạm, đều đã được cẩn thận loại ra khỏi danh sách các tội phạm bị truy tố, ngoại trừ một trong số các tội không mấy quan trọng, giết hại 148 tín đồ Shi’ites trong năm 1982, chỉ như một chú thích cuối trang về thành tích đáng gờm của Saddam.

Saddam là một người bạn quý của Hoa Thịnh Đốn đến độ ông ta ngay cả đã được dành một đặc ân thường chỉ dành cho Do Thái. Năm 1987, lực lượng của Saddam đã “được phép tấn công” một tàu hải quân Hoa Kỳ, USS Stark, với không một hình phạt, giết hại 37 quân nhân trong thủy thủ đoàn. Do Thái cũng đã hành động tương tự trong cuộc tấn công 1967 vào tàu USS Liberty. Sau đó không lâu, Iran hầu như đã chấp nhận thất bại, khi Hoa Kỳ phát động cuộc hành quân Operation Praying Mantis chống lại các tàu Iran và các giàn dầu trong lãnh hải của Iran. Cuộc hành quân đã lên đỉnh điểm khi tàu USS Vincennes, không hề bị đe dọa, đã bắn hạ một phi cơ dân sự Iran, sát hại 290 hành khách — và sau đó viên sĩ quan chỉ huy đã được tưởng thưởng Bắc Đẩu Bội Tinh [Legion of Merit] vì cách “xử lý đặc biệt xứng đáng”[exceptionally meritorious conduct] và duy trì một không khí bình tỉnh và chuyên nghiệp [calm and professional atmosphere] trong suốt thời gian cuộc tấn công phi cơ dân sự đang diễn tiến. Triết gia Thill Raghu đã phải lên tiếng bình luận, “Chúng tôi chỉ có thể đứng nhìn trong kinh ngạc một biểu lộ biệt lệ của Hoa Kỳ!”[9]

Sau khi chiến tranh chấm dứt, Hoa Kỳ vẫn tiếp tục hậu thuẩn Saddam Hussein, kẻ thù SỐ MỘT của Iran. Tổng Thống George H.W. Bush ngay cả đã mời các kỷ sư nguyên tử Iraq đến Hoa Kỳ để được huấn luyện cao cấp về sản xuất vũ khí, một đe dọa cực kỳ nghiêm trọng đối với Iran. Chế tài chống lại Iran đã được tăng cường, kể cả chống lại các xí nghiệp ngoại quốc đối tác của Iran, và các hành động đã được đề xướng nhằm loại trừ Iran khỏi hệ thống tài chánh quốc tế.

Trong những năm gần đây, sự thù nghịch đã được nới rộng để bao gồm ngay cả các biện pháp phá hoại, ám sát các khoa học gia nguyên tử [bởi Do Thái], và cyberwar [chiến tranh điều khiển tự động], đã minh thị được công bố với hãnh diện. Ngũ Giác Đài xem cyberwar như một hành động chiến tranh, biện minh cho một đáp ứng quân sự, cũng như NATO đã xác quyết trong tháng 9-2014 các cuộc tấn công cyber có thể khởi động trách nhiệm tự vệ tập thể của các cường quốc NATO — trong vị thế mục tiêu, không phải trong vị thế thủ phạm.

NHÀ NƯỚC NGOÀI VÒNG PHÁP LUẬT CHỦ YẾU

Công bằng mà nói, cũng đã từng có vài đổi thay trong mẫu mực. Tổng Thống George W. Bush, chẳng hạn, cũng đã có vài quà tặng có ý nghĩa cho Iran qua việc hủy diệt vài thù nghịch quan trọng của Iran, như Saddam Hussein và Taliban. Bush ngay cả đã đặt kẻ thù Iraq của Iran trong khu vực ảnh hưởng của Iran sau sự thất bại của chính người Mỹ, một thất bại nghiêm trọng đến nổi Hoa Thịnh Đốn đã phải từ bỏ các mục tiêu đã chính thức tuyên bố như thiết lập các căn cứ quân sự thường trực [enduring camps] và bảo đảm các đại công ty Hoa Kỳ có đặc quyền tiếp cận các tài nguyên dầu lửa lớn lao của Iraq.

Phải chăng các lãnh đạo Iran hiên nay đang có ý định khai triển vũ khí nguyên tử? Chúng ta có thể quyết định cho chính chúng ta mức độ đáng tin của các cải chính của họ, nhưng trong quá khứ có phần chắc họ đã có những ý định như thế. Xét cho cùng, ý định đó trước đây đã được nhà cầm quyền cao cấp nhất công khai xác quyết và các nhà báo nước ngoài đã được thông báo Iran có thể phát triển vũ khí hạt nhân “một cách chắc chắn, và có lẽ sớm hơn người ta nghĩ.” Cha đẻ của chương trình năng lượng nguyên tử của Iran và người cầm đầu Tổ Chức Năng Lượng Nguyên Tử của Iran trước đây đều tin tưởng kế hoạch của giới lãnh đạo “là xây dựng một bom nguyên tử”. CIA cũng phúc trình không nghi ngờ gì Iran có thể phát triển vũ khí nguyên tử nếu các xứ láng giềng đã làm như thế [như họ đã làm].

Đã hẳn, tất cả những điều nầy đều đã diễn ra dưới thời của Shah, “nhà cầm quyền cao nhất” vừa trích dẫn và vào một thời điểm khi các quan chức hàng đầu của Hoa Kỳ — Dick Cheney, Donald Rumsfeld, và Henry Kissinger, trong số nhiều quan chức khác — đều thúc đẩy Shah xúc tiến các chương trình hạt nhân và gây áp lực với các đại học Hoa Kỳ phải hậu thuẩn các nỗ lực nầy. Dưới các áp lực đó, MIT đã thỏa thuận với Shah chấp nhận các sinh viên Iran vào chương trình kỷ sư nguyên tử để đáp lại các trợ cấp của Iran mặc dù các tổ chức sinh viên chống đối , nhưng với hậu thuẩn tương đối mạnh mẽ của các giáo sư trong một cuộc họp các nhân viên giảng huấn lớn tuổi đã hẳn còn nhớ rõ.

Về sau khi được hỏi tại sao Kissinger đã hậu thuẩn các chương trình như thế dưới thời Shah mà gần đây hơn lại chống đối, Kissinger đã trả lời một cách ngay thẳng:  vì lúc đó Iran đang là một đồng minh.

Tạm thời gác qua một bên các mâu thuẩn phi lý đó, trong thực tế, đe dọa gì của Iran đã thực sự gây âu lo và giận dữ cho Hoa Kỳ? Một lần nữa câu trả lời phải đến từ giới tình báo Hoa Kỳ. Chúng ta còn nhớ phân tích tình báo cho biết Iran không phải là một đe dọa quân sự, các chủ thuyết chiến lược của Iran đều mang tính tự vệ, và các chương trình nguyên tử của Iran [với không một nỗ lực sản xuất vũ khí nguyên tử đã được công nhận] là “phần chính yếu của chiến lược ngăn ngừa.”[10]

Như vậy, ai có thể là người phải âu lo bởi chiến lược ngăn ngừa của Iran? Câu trả lời thật quá rõ ràng: các quốc gia ngoài vòng pháp luật đang thịnh nộ trong khu vực và không muốn cho phép bất cứ một trở lực nào đối với chính sách gây hấn và dùng bạo lực. Dẫn đầu về phương diện nầy là Hoa Kỳ và Do Thái, với Saudi Arabia đang tìm hết cách tham gia vào câu lạc bộ với sự xâm lăng Bahrain [nhằm hỗ trợ nỗ lực nghiền nát phong trào cải cách ở đó] và hiện đang tấn công, tàn sát,  và  tăng tốc tai họa nhân quyền ngày một trầm trọng ở Yemen.

Đối với Hoa Kỳ, các đặc tính vừa kể là rất quen thuộc. Cách đây 15 năm, nhà phân tích chính trị nổi tiếng Samuel Huntington, giáo sư “khoa học chính quyền” ở Harvard, đã cảnh cáo trên nhật báo uy tín Foreign Affairs, đối với phần lớn thế giới bên ngoài, Hoa Kỳ đã trở nên siêu cường ngoài vòng pháp luật … đe dọa duy nhất và lớn nhất từ bên ngoài đối với các xã hội của họ. Chẳng bao lâu sau, lời lẽ của Samuel Huntington đã được Robert Jervis, chủ tịch Hiệp Hội Khoa Học Chính Trị Hoa Kỳ tiếp sức: “Trong mắt của phần lớn thế giới, trong thực tế, nhà nước ngoài vòng pháp luật chính yếu là Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ.” Như chúng ta đã từng thấy, ý kiến toàn cầu đang ủng hộ phán đoán nầy với một đa số lớn lao. [11]

Hơn nữa, bộ mặt lộng quyền nầy luôn được phô trương với đầy kiêu hãnh. Đó là ý nghĩa rõ ràng của sự khẳng định của tầng lớp chính trị: Hoa Kỳ dành quyền sử dụng vũ lực nếu đơn phương nhận định Iran đang vi phạm vài cam kết nào đó. Chính sách nầy đã hiện hữu từ lâu, nhất là đối với phái Dân Chủ tự do, và không chỉ hạn chế riêng cho Iran. Chủ thuyết Clinton, chẳng hạn, xác nhận, Hoa Kỳ có đủ quyền “đơn phương sử dụng lực lượng quân sự” để đảm bảo “quyền tiếp cận không hạn chế đối với các thị trường then chốt, các nguồn cung năng lượng, và các tài nguyên chiến lược,” đó là chưa nói đến các âu lo được xem như “an ninh” hay “nhân quyền.” Bám chặt với các dạng thức khác nhau của chủ thuyết nầy đã nhiều lần được xác nhận và khỏi cần phải thảo luận đối với những ai muốn nhìn lại các sự kiện thực tế trong lịch sử đương đại.[12]

Trên đây là những vấn đề cốt lõi cần lưu ý khi phân tích thỏa ước nguyên tử Vienna, dù  sẽ được Quốc Hội chuẫn y hay phá hoại , như mọi người đều đã biết rõ.

Nguyễn Trường

Irvine, California, U.S.A.

7-9-2015

[1] “the Joint Comprehensive Plan of Action establishes a strong and effective formula for blocking all of the pathways by which Iran could acquire material for nuclear weapons for more than a generation and a verification system to promptly detect and deter possible efforts by Iran to covertly pursue nuclear weapons that will last indefinitely.”

[2] Senator Ted Cruz, considered one of the intellectuals among the crowded field of presidential candidates, warns that Iran may still be able to produce nuclear weapons and could someday use one to set off an Electro Magnetic Pulse that “would take down the electrical grid of the entire eastern seaboard” of the United States, killing “tens of millions of Americans.”

[3] “Iran, in its national capacity and as current chairman of the Non-Aligned Movement [the governments of the large majority of the world’s population], is prepared to work with the international community to achieve these goals, knowing full well that, along the way, it will probably run into many hurdles raised by the skeptics of peace and diplomacy.” Iran has signed “a historic nuclear deal,” he continues, and now it is the turn of Israel, “the holdout.”

[4]Repeatedly, implementation of the resolution has been blocked by the U.S., most recently by President Obama in 2010 and again in 2015, as Dhanapala and Duarte point out, “on behalf of a state that is not a party to the NPT and is widely believed to be the only one in the region possessing nuclear weapons” — a polite and understated reference to Israel. This failure, they hope, “will not be the coup de grâce to the two longstanding NPT objectives of accelerated progress on nuclear disarmament and establishing a Middle Eastern WMD-free zone.”

[5] The U.S. intelligence community has also reported that it has no evidence Iran is pursuing an actual nuclear weapons program and that “Iran’s nuclear program and its willingness to keep open the possibility of developing nuclear weapons is a central part of its deterrent strategy.”

[6] Full details are provided in an April report from the Center for Strategic and International Studies (CSIS), which finds “a conclusive case that the Arab Gulf states have… an overwhelming advantage of Iran in both military spending and access to modern arms.”

[7] “The Arab Gulf states have acquired and are acquiring some of the most advanced and effective weapons in the world [while] Iran has essentially been forced to live in the past, often relying on systems originally delivered at the time of the Shah.”

[8]In the journal of the Royal Institute of International Affairs, two leading Pakistani nuclear scientists, Pervez Hoodbhoy and Zia Mian, write that increasing fears of “militants seizing nuclear weapons or materials and unleashing nuclear terrorism [have led to]… the creation of a dedicated force of over 20,000 troops to guard nuclear facilities.  There is no reason to assume, however, that this force would be immune to the problems associated with the units guarding regular military facilities,” which have frequently suffered attacks with “insider help.”

[9] “We can only stand in awe of such display of American exceptionalism!”

[10] Recall its analysis that Iran poses no military threat, that its strategic doctrines are defensive, and that its nuclear programs (with no effort to produce bombs, as far as can be determined) are “a central part of its deterrent strategy.”

[11]   Fifteen years ago, the prominent political analyst Samuel Huntington, professor of the science of government at Harvard, warned in the establishment journal Foreign Affairs that for much of the world the U.S. was “becoming the rogue superpower… the single greatest external threat to their societies.” Shortly after, his words were echoed by Robert Jervis, the president of the American Political Science Association: “In the eyes of much of the world, in fact, the prime rogue state today is the United States.” As we have seen, global opinion supports this judgment by a substantial margin.

[12] Furthermore, the mantle is worn with pride.  That is the clear meaning of the insistence of the political class that the U.S. reserves the right to resort to force if it unilaterally determines that Iran is violating some commitment.  This policy is of long standing, especially for liberal Democrats, and by no means restricted to Iran.  The Clinton Doctrine, for instance, confirmed that the U.S. was entitled to resort to the “unilateral use of military power” even to ensure “uninhibited access to key markets, energy supplies, and strategic resources,” let alone alleged “security” or “humanitarian” concerns.  Adherence to various versions of this doctrine has been well confirmed in practice, as need hardly be discussed among people willing to look at the facts of current history.

Advertisements