HOA KỲ VỚI THỎA ƯỚC VIENNA, PHÁI TÂN BẢO THŨ, VÀ ĐẢNG CỘNG HÒA

“Chúng ta sẽ đẩy tới và đẩy tới cho đến khi một lực lượng hùng hậu hơn nào đó buộc chúng ta phải ngừng”.[1]

David Addington, cố vấn luật pháp của Phó Tổng Thống Dick Cheney, đã tuyên bố như trên với Jack Goldsmith thuộc Sở Cố Vấn Luật Pháp trong những tháng tiếp theo sau biến cố 11/9. Goldsmith sau đó có thể đã nhớ lại Cheney và Addington là những nhân vật đầu tiên ông ta đã gặp thuộc loại:”Cheney thiếu tế nhị , và không bao giờ che đậy trò chơi của mình. Điều đáng ngạc nhiên là Cheney luôn làm những gì ông ta nói. Không nao núng là đức tính tôi thấy ở Cheney và Addington — một đức tính tôi chưa từng thấy bao giờ trong đời.”[2]

Goldsmith đã không tự xem như đối thũ của Cheney và Addington. Có lẽ ông đã chia sẻ nhiều quan điểm chính trị với cả hai. Điều gây sốc đối với Goldsmith là niềm tin của cả hai ở một tập hợp các luật pháp và các chính sách bạo động bí mật có thể hủy hoại sinh mạng của nhiều người vô tội và vi phạm hay bóp méo Hiến Pháp. Phái tân bảo thũ — những thành phần chủ trương và cố vấn lập pháp từ năm 2001, luôn biện minh cho các chính sách của Cheney-Bush — cũng cùng một khuôn mẫu. Họ không hề nao núng, luôn xô đẩy cho đến khi bị chận đứng, và cho đến nay họ chưa bao giờ bị chận đứng lâu dài.

Chiến dịch Iraq năm 2003 — một thí dụ thuần khiết nhất trong công trình của họ — đã bắt đầu với văn kiện chiến lược 1996. Vì vậy, bảo rằng họ đã lớn tiếng chủ trương hủy diệt Vùng Trung Đông trong suốt hai thập kỷ là một nhận định khá chính đáng.

Đối với họ, vận mệnh đã khá trớ trêu, nhất là với thỏa ước hạt nhân giữa các đại cường P5+1 và Iran. Chiến tranh và viễn ảnh chiến tranh đã là cội nguồn của vai trò quan trọng không thể chối cãi của họ. Nếu thỏa ước nguyên tử Iran đạt được tính chính đáng, phần lớn quyền lực của họ sẽ vuột khỏi tầm tay. Lý tưởng đế quốc — động lực thúc đẩy các công trình mạo hiểm hàng ngày của họ — sẽ đánh mất kẻ-thù-cứu-cánh của lý do hiện hữu.

Iran lúc đó chỉ có thể trở thành một xứ thiếu may mắn khác — độc tài và đàn áp nhưng cũng chỉ là một đối tượng để thuyết phục và không phải tiêu điểm của một đe dọa bạo lực không bao giờ dứt.

Các thành phần tân bảo thũ đã trở nên điên cuồng và phản ứng sôi nỗi: nếu họ chỉ là những cá nhân, bạn có thể nói các cá nhân đó là những tai ương cho chính mình và cho nhiều người khác. Họ vẫn dành được nhiều sự chú ý và thời lượng, nhưng sự khác biệt chính giữa 2003 và 2015 là sự thiếu vắng một tổng thống tuân theo mệnh lệnh của họ — một điều chỉ có thể làm họ thêm giận dữ và gay gắt hơn.

Tổng Thống Obama đã bảo vệ mạnh mẽ thỏa ước hạt nhân trong bài nói chuyện tại American University. Đây là dịp giải thích dài dòng đầu tiên về quyết định chính sách ngoại giao trong nhiệm kỳ của chính tổng thống; và bài nói chuyện còn thiếu ngay cả một chút vụng về gây cảm hứng. Trong thực tế, đây là bài nói chuyện đầu tiên không có cơ may được nhớ tới với ấn tượng “hùng biện,” nhưng xứng đáng được ngợi khen nhiều hơn về ý nghĩa thực tế. Bài nói chuyện, như tiên đoán, đã bị vài giới tố cáo như xơ cứng, thiếu khoan dung, và “quá đáng”.

Obama đã bắt đầu với ý thức hệ khởi động và biện minh cho cuộc chiến Iraq năm 2003. Tổng Thống gọi đó là một “một “định kiến” hay “mindset” — một từ thích ứng, gợi ý cặp ống nghe hay “earphones,” giúp người được trang bị khỏi phải nghe bất cứ tiếng động nào từ thế giới bên ngoài. Kể từ mùa hè năm 2002, người Mỹ đã luôn phải nghe giọng điệu tuyên truyền: bom mìn, xâm lăng, chiếm đóng Iraq! Và Hoa Kỳ cũng đã hành động như thế đối với các xứ khác!

Vì lý do lành mạnh, Obama đã giải thích, chúng ta cần gở bỏ cặp ống nghe:

“Trước hết chúng ta cần phải chấm dứt định kiến lèo lái chúng ta đến đó. Đây là một khuynh hướng đặc trưng bởi ưa thích hành động quân sự hơn là ngoại giao; một khuynh hướng luôn đánh giá cao hành động đơn phương của Hoa Kỳ hơn là kiên nhẫn xây đắp đồng thuận quốc tế; khuynh hướng thổi phồng các nguy cơ đe dọa, trái ngược với những gì tin tức tình báo có thể hậu thuẩn. Cấp lãnh đạo đã không thành khẩn hay ngay thẳng với nhân dân Mỹ về phí tổn chiến tranh, luôn nhấn mạnh chúng ta có thể dễ dàng áp đặt ý muốn lên phần thế giới với nền văn hóa và lịch sử khác biệt sâu xa. Và, đã hẳn, những người kêu gọi chiến tranh đã tự cho mình là hùng mạnh và quyết đoán, trong khi luôn phủ nhận và lên án những ai bất đồng quan điểm là bạc nhược, ngay cả chủ hòa, đối với một địch thũ hiểm độc.”[3]

Trong bảng liệt kê ngắn gọn những đặc trưng tinh thần nầy, Obama đã cẩn thận không nêu tên một ai, nhưng tổng thống đã làm dễ dàng và đã giúp đem lại những chìa khóa:

Một định kiến đặc trưng bởi ưa chuộng hành động quân sự: Tổng Thống George W. Bush đã ra lệnh triệt thoái các thanh tra nguyên tử Liên Hiệp Quốc khỏi Iraq [mặc dù họ đã yêu cầu được ở lại và hoàn tất công việc], vì nhu cầu cấp thiết phải trải thảm bom đạn và hỏa lực trong tháng 3-2003;

Một định kiến đánh giá cao hành động đơn phương của Hoa Kỳ: Bộ trưởng Quốc phòng Donald Rumsfeld đã bác bỏ mọi thách thức nghi ngờ, và ngay cả quyết định không tham chiến của Pháp và Đức sau đó, xem như những bằng chứng của một “Âu Châu bất thích ứng và lỗi thời”;

Một định kiến thổi phồng các đe dọa: các tường thuật được hiệu đính qua loa trên báo New York Times bởi Judith Miller và Michael Gordon, do một chính quyền chủ chiến tung ra rồi tái loan truyền trên các kênh tin tức truyền hình, như bằng chứng biện minh cho cuộc chiến phòng ngừa;

Giới lãnh đạo không thành thật ngay thẳng với nhân dân Hoa Kỳ về phí tổn của cuộc chiến: Thứ trưởng Quốc Phòng Paul Wolfowitz không quan tâm đến con số ước tính của tướng Eric Shinseki, Tổng Tham Mưu Quân Đội, phải cần đến 400.000 quân để duy trì trật tự ở Iraq sau cuộc chiến;

Luôn nhấn mạnh người Mỹ có thể dễ dàng áp đặt ý muốn của mình lên phần thế giới bên ngoài với một văn hóa và lịch sử khác biệt sâu xa: những sáo ngữ hay thuốc an thần của Bush và Cố Vấn An Ninh Quốc Gia Condoleezza Rice, như “tinh thần cố hữu của người Á Rập, trong khắp vùng Trung Đông, luôn thèm muốn dân chủ kiểu Mỹ”.

Obama tiếp tục quả quyết: có nhiều người cũng như nhiều ý tưởng giữa giới tuyên truyền chủ trương chúng ta cần phải trải thảm bom mìn, xâm lăng, và chiếm đóng Iraq trong năm 2003 và những kẻ hiện đang chi tiêu hàng chục triệu mỹ kim để cầm chắc Quốc Hội sẽ bác bỏ thỏa ước hạt nhân Vienna.

Obama cũng đã nhấn mạnh: “Cùng một định kiến, trong nhiều trường hợp cũng do cùng những thành phần, không mảy may ân hận và hối tiếc về các sai lầm liên tục đã đưa đến cuộc chiến ngày một giúp tăng cường Iran và cô lập Hoa Kỳ, hơn bất cứ những gì chúng ta đã làm trong nhiều thập kỷ trước hay sau đó.”[4]

Những người đó đã không bao giờ công nhận họ đã sai lầm.

Một số đã đổ tội cho Tổng Thống Bush hay L. Paul Bremer, quản trị viên Tổng Trấn Liên Minh Lâm Thời [Coalition Provisional Authority] của tổng thống ở Baghdad, đã quản lý sai trái công tác chiếm đóng tiếp theo sau cuộc xâm lăng.

Một số khác tiếp tục nuôi dưỡng lý thuyết quái dị: Saddam Hussein đã thực sự chấp hữu các vũ khí hạt nhân, nhưng một cách nào đó, đã lén chuyển qua biên giới đến Syria và đánh lừa và qua mặt các đội tình báo Hoa Kỳ và các thanh tra Liên Hiệp Quốc.

Và vẫn còn một số khác đã biện minh: các dân quân Shiite và vũ khí do Iran gửi đến Iraq là thũ phạm chính trong tai họa hỗn loạn hậu chiến.

Cũng không nên quên các tác giả tạo dựng công luận trong năm 2003 cũng chẳng mấy thấu hiểu sự khác biệt giữa Shiite và Sunni trong một xứ họ muốn xâm lăng. Thực vậy, tìm cách đổ tội hiện nay cho Iran là phơi bày một “thiên tài lập luận vòng quanh” [circular reasoning]. Bởi lẽ các dân quân Shia, vì tôn giáo, luôn liên minh với Iran, người ta đã có thể đưa ra luận cứ: Iraq đã không bị tàn phá bởi cuộc chiến lựa chọn tai họa, với tác động nhen nhúm khói lửa chiến tranh trong toàn vùng.

Thưa không, không phải như thế: Chính Hoa Kỳ dưới quyền lãnh đạo của Bush và Cheney, một siêu cường khiêm tốn thực thi công tác một cách thích đáng, đem lại hòa bình và dân chủ cho một khu vực đen tối của địa cầu qua phương tiện một cuộc chiến sạch sẻ, nhanh chóng và chính xác. Trong các năm 2004 và 2005, cũng như trong năm 2015, chính Iran đã gây ra mọi rắc rối.

NHỮNG SỰ THẬT ĐƠN GIẢN KHÔNG ĐƯỢC BIẾT ĐẾN

Vì lẽ Thủ Tướng Do Thái Benjamin Netanyahu đã khinh miệt thỏa ước nguyên tử và chẳng cần lưu tâm đến chi tiết, Tổng Thống Obama, trong bài nói chuyện, đã cảm nhận bị bó buộc phải nhận diện, một cách chân thật, thực tế khác biệt về quyền lợi quốc gia hiện diện giữa Do Thái và Hoa Kỳ.

“Mặc dù là đồng minh”, tổng thống nói, “chúng ta là hai quốc gia khác nhau”, và tổng thống đã dành cho người nghe quyền tự do rút tỉa kết luận cần thiết: không thể có hai quốc gia [hay bất cứ hai thể nhân nào] cùng lúc khác biệt và đồng nhất. Obama tiếp tục nối kết cả hai quốc gia [Hoa Kỳ và Do Thái] với tiền đề chính trị quốc tế sau:

“Tôi tin [tất cả các điều khoản của thỏa ước] đều nằm trong giới hạn quyền lợi của Hoa Kỳ và quyền lợi của Do Thái. Và trong tư cách tổng thống của Hiệp Chủng Quốc, tôi có thể bị xem là đã từ bỏ trách nhiệm hiến định khi hành động trái ngược với phán đoán tốt nhất của tôi, đơn thuần chỉ vì làm như vậy sẽ gây ra một xung đột tạm thời với một bạn thân và đồng minh.”[5]

Xác quyết cuối cùng mang tính cực kỳ thiết yếu. Tổng Thống đã tuyên thệ “duy trì, che chở, và bảo vệ hiến pháp của Hiệp Chủng Quốc” — có nghĩa, chăm lo quyền lợi của xứ sở của mình và không phải của một xứ sở nào khác.

Nguy cơ chơi trò được nuông chiều trong thế giới các quốc gia, với khuynh hướng thiên vị vô giới hạn, là đề tài chính của Diễn Văn Giả Biệt nổi tiếng của George Washington. “Ác cảm thường trực và thâm căn cố đế chống lại các quốc gia đặc biệt nào đó, và tha thiết say mê đối với các xứ khác, cần phải được loại trừ,” Tổng Thống Washington đã từng tuyên bố, ” vì lẽ quyến luyến quá đáng một quốc gia dành cho một quốc gia khác thường đem lại một số tai họa. Cảm tình dành cho quốc gia ưa chuộng dễ dàng tạo ảo tưởng một quyền lợi chung tưởng tượng trong các trường hợp không một quyền lợi chung thực sự nào hiện hữu, và du nhập vào một xứ những thù nghịch đối với một xứ khác, là dẫn dụ sai trái xứ đầu tham gia vào các tranh cãi và chiến tranh với xứ sau không một xui khiến hay biện minh thích đáng.”[6]

Ngày nay nhiều người Mỹ đã tự chuốc vào mình một đam mê ngự trị thuận lợi duy nhất cho quyền lợi của Do Thái, và tổng thống nghĩ đến những người nầy khi đơn cử bổn phận hiến định của chính tổng thống đối với quốc gia duy nhất trong khuôn khổ các luật pháp và các định chế, tổng thống đã tuyên thệ phụng sự. Chân thành tôn trọng đối với một xứ dân chủ khác cũng là một phần tư duy của tổng thống ở đây. Không những Obama đã không được bầu chọn để hậu thuẩn ý niệm của Netanyahu về quyền lợi của Hoa Kỳ, Obama cũng đã không được bầu chọn bởi cử tri Do Thái để hậu thuẩn ý niệm của chính ông về quyền lợi của Do Thái.

Trong một bài bình luận gần đây trong Foreign Affairs, một nhà báo Do Thái và nguyên cố vấn chính quyền, Daniel Levy, đã nêu rõ một thực tế không được nhiều người ngày nay nhắc nhở, liên quan đến những nỗ lực liên tục của Netanyahu nhằm phá hoại các cuộc thương nghị với Iran. Chính Thủ Tướng Do Thái ngay từ đầu đã đòi hỏi các cuộc thương nghị nguyên tử phải được theo đuổi trên một lối riêng ngoài mọi thỏa ước về thương mãi hay bán vũ khí quy ước. Netanyahu đã chọn lối nầy là vì ông ta tin chắc nó sẽ khiến các cuộc thương nghị đổ vỡ. Vì bước đầu đã thất bại, Netanyahu giờ đây lại biến đổi sự gỡ bỏ các chế tài đối với vũ khí quy ước thành một chống đối có ý nghĩa đối với “thỏa ước xấu”ở Vienna.

Obama kết thúc luận cứ với tuyên bố “tất cả các giải pháp thay thế cho hành động quân sự sẽ phải được tận dụng trước nếu chúng ta bác bỏ giải pháp ngoại giao khó nhọc lắm mới đạt được — một giải pháp thế giới hầu như đã đồng thanh hậu thuẩn. Vì vậy, chúng ta khỏi cần phải dè dặt trong lời nói. Sự lựa chọn cuối cùng chúng ta đang đối diện giữa ngoại giao hay một hình thức chiến tranh nào đó — có thể không phải nay mai, có thể không phải ba tháng sau, nhưng sớm hơn.”[7] Đó là lời tuyên bố chừng mực và có thể chứng minh là chính xác.

Nhưng bạn có thể không bao giờ đến đủ gần để chào đón sự thật nầy nếu bạn luôn nghe theo các đại biểu Cộng-Hòa trong Quốc Hội lặp đi lặp lại các khẩu hiệu tân bảo thũ và các tóm lược lịch sử Trung Đông đi kèm gần đây của những đại biểu nầy. Họ đã thuộc lòng và thẩm thấu những kịch bản chiến tranh chống khủng bố của các diễn viên tân bảo thũ với sự hồ hởi của các “hải cẩu đã được huấn luyện thuần thục”–“trained seals”: Do Thái chung sống trong lòng những “láng giềng nguy hiểm”; Tín đồ Hồi Giáo đang “gỏ cửa” và “tìm những kẻ hở dọc biên giới với “Mexico;” Iran là “nhà nước bảo trợ khủng bố quan trọng nhất trên thê giới;” Barack Obama là “người chủ hòa” và “”chỉ còn năm phút là đến nửa đêm ở Munich.”

Các quan chức dân cử đi trên hai chân trong thế kỷ XXI không hề cảm thấy bối rối mỗi khi lặp lại những điều đó với không một chút ý niệm về xuất xứ hay từ đâu đến.

Nếu có một sơ hở trong sự giải thích chính sách của tổng thống, sơ hở đó nằm trong những gì tổng thống đã bỏ sót không nhắc tới. Khi bạn giáo dục dân chúng đã luôn sống dưới “ảnh hưởng truyền giáo” lâu ngày, như người Mỹ đã trải nghiệm, bởi một thói quen tôn sùng chính trị trong suốt hai thập kỷ, không có gì nên được xem như chuyện đương nhiên. Hầu hết người Mỹ không hề biết: tín đồ Hồi Giáo cực đoan, al-Qaeda, al-Nusra, Nhà Nước Hồi Giáo [IS] — lực lượng cách mạng năng động và tối nguy hiểm trong Vùng Trung Đông Nới Rộng hiện nay — đang được gọi là Hồi Giáo Sunni. Người Mỹ cũng không hề biết các tín đồ Hồi Giáo Shia đang nắm quyền ở Iran và đang hậu thuẩn chính quyền Syria đã chưa bao giờ tấn công Hiệp Chủng Quốc.

Nói một cách giản dị như đang cần nói: người Shiites và Sunnis là hai giáo phái khác nhau, và người Shiites của Iran hiện đang chiến đấu chống lại cùng những kẻ thù Hoa Kỳ đang đối đầu ở Syria và nhiều nơi khác. Một lần nữa, người Mỹ, hầu hết đều thu lượm tin tức từ các nguồn rác rưới vụn vặt trên mạng, không chút ý niệm chỉ có các thành phần Sunni cuồng tín trong lực lượng các không tặc đã tấn công vào Trung Tâm Thương Mãi Thế Giới vào ngày 11-9-2001. Họ có thể ngạc nhiên khi biết được không một ai trong nhóm nầy đã đến từ Iraq hay Iran. Họ không hề biết 15 trong số 19 tên không tặc đã đến từ Saudi Arabia — một quốc gia được xem như đồng minh của Hiệp Chủng Quốc. Và họ cũng không hề biết các chiến binh Hồi Giáo đã gieo rắc hỗn loạn và điêu tàn cho Syria và Iraq một phần đã được tài trợ bởi các thành viên thượng lưu Saudi Arabia và Qatar không có giây mơ rễ má gì với Iran. Tài liệu báo chí dòng chính Hoa Kỳ đã không bao giờ nhấn mạnh — thực ra hiếm khi viết theo phương cách đáng được lưu ý: chính Iran đã phải chấp nhận gánh nặng chiến đấu chống lại IS.

Trong suốt nhiệm kỳ tổng thống cho đến nay, khi nói về Iran, Obama đã luôn xen kẻ mỗi một biểu cảm hy vọng đối với các quan hệ cải thiện với chút ít sỉ nhục. Tổng Thống đã đối xử với Iran như một quốc gia phạm lỗi biệt lệ đối với luật pháp các quốc gia, một xứ chỉ đòi hỏi được quan tâm trong địa hạt tài giảm quân bị. Obama đã hành động như vậy với mục đích đem lại an tâm cho giới thượng lưu chính sách tổng thống tôn trọng và có thể chia sẻ các giai điệu quen thuộc.

Nhưng thái độ nhún nhường quỵ lụy trước các sáo ngữ đã luôn e dè, nhút nhát, thiếu thực tế, và đã được tư vấn không chính đáng. Franklin Roosevelt và Winston Churchill đã không hề tố cáo Liên Bang Xô Viết khi chấp nhận nhà độc tài Joseph Stalin như một đối tác chiến tranh trong năm 1941, mặc dù, dưới mắt họ, các “lỗi lầm” của Stalin đã vượt quá những gì người Mỹ có thể quy trách hàng giáo phẩm Iran. Một tố cáo, dù chỉ mang tính nghi lễ, đối với một đồng minh cần thiết là một điều rõ ràng phi lý. Và trong một quốc gia dân chủ, hành động như thế là cản trở giới bình dân tìm hiểu những gì đang xẩy ra.

NHỮNG THỎA ƯỚC NGUYÊN TỬ và PHE CHỈ TRÍCH, XƯA và NAY

Cơ may thành công của phái tân bảo thũ và phe Cộng Hòa là gì trong nỗ lực phá hoại thỏa ước hạt nhân Vienna giữa Iran và P5+1?

Chúng ta có thể tìm thấy chút ít khuyến khích từ nỗ lực đầy tham vọng tiếp cận một kẻ thù: những thương nghị giữa Tổng Thống Ronald Reagan và lãnh tụ Liên Bang Xô Viết Mikhail Gorbachev ở Reykjavik, Washington, và Moscow, trong các năm 1986, 1987,và 1988. Vào thời đó, mọi người cần được báo động về bước ngoặt lịch sử bất ngờ trước thế lực mới bắt đầu của phái Tân Bảo Thũ. Vài lãnh đạo sớm sủa của phe nầy như Richard Perle đã giữ nhiều chức vụ quan trọng trong chính quyền Reagan, và họ đồng thanh thù nghịch với các thương nghị [sau đó đã đưa đến] “Thỏa Ước Lực Lượng Nguyên Tử Tầm Trung” [Intermediate-Range Nuclear Force Treaty — INF] năm 1988. Thỏa ước đã giúp tiêu hủy 2.611 tên lửa, với khả năng phóng 4.000 đầu đạn nguyên tử — bước tiến xuống thang nguy cơ chiến tranh nguyên tử lớn nhất kể từ Thỏa Ước Bài Trừ Thử Nghiệm do Tổng Thống Kennedy cỗ vũ và đạt được vào cuối năm 1963.

Nhưng như James Mann đã kể lại trong “The Rebellion of Ronald Reagan” [Sự Nổi Loạn của Ronald Reagan] — câu chuyện về thay đổi chính sách đối ngoại cuối nhiệm kỳ của một tổng thống chống Cộng — tất cả các nỗ lực ngoại giao của Reagan đã bị chối từ vào lúc đó, không những bởi các đầu óc tân bảo thũ cực đoan, mà còn bởi các bậc tiền bối với nhiều “thành tích ngoại giao,” như nguyên Tổng Thống Richard Nixon và nguyên Ngoại Trưởng Henry Kissinger; bởi các bình luận gia cánh hữu, George Will và William Safire; và bởi tạp chí Time magazine [đã đăng tải câu chuyện mang tên “Phải Chăng Reagan Đã Trở Nên Quá Mềm Mỏng?” — “Has Reagan Gone Soft?”].

Các cuộc thương nghị Reagan-Gorbavhev cũng đã được nhìn với nghi ngờ bởi các thành phần thực tiển và ôn hòa trong giới chính trị và an ninh, kể cả Robert Gates và đương kim Phó Tổng Thống George H.W. Bush. Tại sao Gates? Bởi lẽ Gates là phó giám đốc CIA và CIA lại hoàn toàn tin tưởng Liên Bang Xô Viết và giới lãnh đạo không bao giờ có thể thay đổi. Tại sao Bush? Bởi lẽ Bush đang ra ứng cử Tổng Thống.

Giới chính trị và truyền thông lúc đó đã lấy làm ngạc nhiên với sự đổi thay [do Tổng Thống Reagan lần đầu tiên đã tõ dấu hiệu trong năm 1986], cũng như ngày nay đang ngạc nhiên với sự ký kết thỏa ước P5+1. Đây cũng chính là Ronald Reagan, trong năm 1983, đã gọi Liên Bang Xô Viết “một đế quốc ma quỹ” [an evil empire].

Vào cuối cuộc viếng thăm Moscow trong tháng 6-1988, phóng viên ABC News, Sam Donaldson, đã hỏi Reagan: “Ngài có còn nghĩ ngài đang ở trong một đế quốc ma quỹ, thưa Tổng Thống?”

“Không,” Reagan đã trả lời. “tôi đang nói về một thời điểm khác và một kỷ nguyên khác.” Và Tổng Thống đã bám chặt câu trả lời đó trong cuộc họp báo ngày hôm sau, và còn thêm: “Tôi nghĩ rằng phần lớn [sự thay đổi] là do ngài Tổng Thư Ký, người tôi đã nhận thấy khác với các lãnh đạo Xô Viết trước đây… Một phần lớn điều nầy là do Ngài Gorbachev như một nhà lãnh đạo.”[8]

Vào năm 1987, uy tín của Reagan đã sụt xuống mức khá thấp 47% — phần lớn là do vụ bê bối xấu xa “Iran-Contra scandal” — nhưng ông vẫn nổi tiếng như một tổng thống hoàn hảo đã bảo vệ Tây Phương chống lại cộng sản quốc tế.

Riêng về phần mình, Obama đã làm tất cả những gì có thể — ngoại trừ tranh đua với chiến lược xâm-lăng-và-chiếm-đóng của Bush — để duy trì phóng chiếu quyền lực của Hoa Kỳ ở Trung Đông theo phương cách quen thuộc của Hoa Thịnh Đốn từ biến cố 11/9. Và với đội ngũ chuyên gia “chiến tranh mang tính nhân đạo” vây quanh, Obama rõ ràng tin tưởng chính sách nầy có thể giúp tự che chở khi Obama thương nghị thành công một đột phá của riêng mình với Iran.

Cuối cùng, Reagan đã thành công với số phiếu 93-5 Thượng Viện đã dành cho thỏa ước hạt nhân với Liên Bang Xô Viết. Obama chỉ đang hy vọng một tỉ số thấp hơn nhiều — một biểu quyết ít hơn 2/3 Thượng Viện chống đối thỏa ước với Iran. Tuy vậy, tổng thống hiện vẫn đang phải đối đầu với toàn bộ phe đối lập của đảng Cộng Hòa với một tính cách mới và một hậu thuẩn tài chánh mới.

Quân lực Hoa Kỳ và guồng máy an ninh đã đứng về phía tổng thống. Và mặc dù một thực tế ít được biết đến ở đây, đại đa số người Do Thái có thể có tiếng nói đầy uy lực về các đề tài quốc phòng và an ninh cũng sẵn sàng hậu thuẩn tổng thống. Ngay cả tổng thống Do Thái, Reuven Rivlin, cũng đã tỏ rõ lòng tin: các can thiệp của Netanyahu vào chính trị Hoa Kỳ là sai lầm. Nguyên Thủ Tướng Ehud Barak đã khuyến cáo, mặc dù gượng gạo, Do Thái cũng nên chấp nhận thỏa ước nguyên tử và vun quén một đồng thuận với Hoa Kỳ về những gì cần làm trong trường hợp thỏa ước bị vi phạm.

Ngoài sự đồng thuận, tưởng cũng cần nhắc đến văn thư công cộng — do 29 khoa học gia Hoa Kỳ ký tên, phần đông đã tham dự vào quá trình thương nghị các đề tài nguyên tử, kể cả sáu khoa học gia được giải thưởng Nobel — bảo đảm tính chính xác của thỏa ước và “ngợi khen” tính chặt chẽ và nghiêm chỉnh vô tiền khoáng hậu của mức trần 24 ngày trì hoãn dành cho Iran trong quá trình thanh tra các cơ sở hạt nhân hay hiện trường: một khoảng thời gian ngắn ngũi đến độ [vì không ai hiểu rõ ràng hơn các khoa học gia nầy] một che dấu thành công các dấu vết hoạt động hạt nhân đã trở thành một việc bất khả thi.

Hai văn thư công cộng hậu thuẩn thỏa ước hạt nhân khác cũng rất đáng được ghi nhận.

Văn thư đầu tiên được ký bởi các nhà ngoại giao Hoa Kỳ đã rõ ràng chấp thuận thỏa ước, như: Ryan Crocker, đại sứ Hoa Kỳ ở Iraq sau năm 2003; Nicholas Burns, người thương thuyết với Iran cho Bush con; và Daniel Kurtzer, một đại sứ trước đây ở Do Thái và Ai Cập, phục vụ dưới thời hai Tổng Thống Bill Clinton và George W. Bush.

Bức thư thứ hai mang uy lực cá nhân và định chế của hàng tá các đô đốc và tướng lãnh hưu trí.

Một tiếp cận hầu như nhất trí như thế đã hẳn rất có lợi cho một thỏa ước giữa các cộng đồng quân sự, ngoại giao, và khoa học, hiếm khi đã đạt được. Ngay cả tổng thống Reagan cũng đã không thể ghi nhận được một trình độ hậu thuẩn như thế bởi các thẩm phán đầy đủ tư cách khi chuyển đạt thỏa ước INF qua Thượng Viện để xét chuẩn y.

Những bảo trợ không chút dè dặt như vậy đã biểu hiện đủ lý do để đem lại hy vọng. Tuy nhiên, phe hậu thuẩn Obama vẫn đắn đo khi gọi đây là cuộc đua bất phân thắng bại trên các kênh phát thanh và truyền hình. Phe tân bảo thũ, với hậu thuẩn của các đảng viên Cộng Hòa, một lần nữa đang cật lực tranh đua với năng lượng vô giới hạn. Nhiều sự nghiệp đang được xây đắp trên cuộc đua tranh, như trường hợp Nghị Sĩ Tom Cotton, và nhiều ứng cử viên tổng thống cũng đang nhập cuộc tranh đua cá cược.

Ngay vào ngày Obama đọc diễn văn, một hội thoại [talk show] tương đối uy tín của Charlie Rose cũng đã cho phép giới truyền thông nghiêng nhiều về phía chống đối. Bốn khách mời của Charlie là phóng viên Haaretz Chemi Shalev; nhà bình luận thuộc Daily Beast, Jonathan Alter; nguyên quan chức Bộ Ngoại Giao và chủ tịch Hội Đồng Quan Hệ Đối Ngoại, Richard Haass; và nhà tư bản mạo hiểm tân bảo thũ Mark Dubowitz, người đã đến với tư cách một chuyên gia về các chính sách nguyên tử và chính quyền Iran.

Haass, người say mê chống đối thỏa ước, đã cho biết bài nói chuyện của tổng thống là “quá đáng”, và hy vọng Quốc Hội có thể sửa chữa những sai lầm rõ ràng trong diễn văn. Shalev đánh giá bài nói chuyện là chân thật và “cường tráng”[bracing], nhưng nghĩ: bài nói chuyện có thể “làm mếch lòng” nhiều người trong cộng đồng Do Thái. Dubowitz xem Iran như một quốc gia dối trá cần phải gánh chịu trừng phạt ngày một gia tăng. Giải pháp của ông: “dành quyền cho tổng thống kế tiếp trở lại bàn thương nghị.” Jonathan Alter là người duy nhất đã bảo vệ thỏa ước.

HOẠCH ĐỊNH TẤN CÔNG IRAN, 2002-2015

Cho đến bây giờ, các thành phần năng động trong giới bình luận dòng chính về Cuộc Chiến chống Khủng Bố đều đã có một lịch sử; và chúng ta có thể rút tỉa nhiều bài học khi nhìn lại quá khứ.

Haass, chẳng hạn, một trụ cột trong giới làm chính sách đối ngoại, đã từng làm việc trong Bộ Ngoại Giao dưới thời Bush và Cheney và không công khai chống đối Cuộc Chiến Iraq. Dubowitz gần đây đã là đồng tác giả vài bài cùng viết chung với Reuel Marc Gerecht, một chuyên gia tuyên truyền hàng đầu chủ trương xâm lăng Iraq trong năm 2003. Trong một bài viết đặc trưng trên Wall Street Journal trong tháng 11-2014, Gerecht và Dubowitz đã đưa ra luận cứ các cuộc thương nghị P5+1 đã mở đường cho một bom nguyên tử của Iran. Theo họ, Obama quá yếu đuối và bị vướng mắc bởi các lỗi lầm riêng để có thể thăm dò các giải pháp thay thế. Tuy vậy, cũng theo họ, vẫn có ba kịch bản một tổng thống khôn ngoan và mạnh mẽ hơn có thể xem xét.

Trước hết, “Tòa Bạch Ốc có thể từ bỏ biện pháp ngoại giao, và thay vào đó, cần tấn công ngăn ngừa các cơ sở hạt nhân của Iran”; thứ hai, “chính quyền có thể từ bỏ các cuộc thương thảo hiện nay và quay trở lại với các chế tài”; thứ ba, các chế tài mới và nghiêm trọng hơn có thể được áp đặt, gây nhiều tác động lớn lao đối với Tehran”. Tầm cỡ chính sách cần khuyến cáo, đối với Gerecht và Dubowitz, khởi đầu với “các chế tài gây nhiều tai hại” cho Iran, và chấm dứt với một cuộc chiến xâm lược.

Các kịch bản trên đây là “những lựa chọn tân bảo thũ” điển hình. Viết riêng trên báo The Atlantic trong tháng 6-2013, Dubowitz đã thông báo cho độc giả Hoa Kỳ: chẳng có gì để tán dương trong cuộc bầu cử tổng thống Iran đem lại thành công cho Hassan Rouhani duy lý và ôn hòa. “Trung thành với lãnh tụ tối cao Iran và là bậc thầy lừa dối nguyên tử, Rouhani, theo giải thích của Dubowitz, là một người bạn giả hiệu với uy quyền mới, không giúp chúng ta tiến đến gần hơn mục tiêu chận đứng nỗ lực nguyên tử của Iran.”[9]

Chỉ cần nhìn Gerecht trong các chuyến bay đơn độc và bạn có thể thấy những gì đã khiến Tổng Thống Obama nói: Họ là những người đã đem lại cho chúng ta cuộc chiến Iraq. Lúc đó, họ đã tin chắc vào những điều tốt đẹp tiếp theo sau chiến dịch dội bom và xâm lăng Iraq, không mấy khác ngày nay họ cũng tin chắc các lợi điểm nếu tấn công Iran. Thực vậy, Gerecht đã tỏ ra xuất chúng khi kêu gọi tấn công Iran ngay cả trước khi Bush chính thức phát động chiến lược Iraq.

Chúng ta cũng được biết bài nói chuyện của Dick Cheney ngày 26-8-2002, với Cựu Quân Nhân Các Cuộc Chiến Hải Ngoại, đã đánh dấu sự mô tả chính thức đầu tiên cuộc Chiến chống Khủng Bố của một lãnh đạo Hoa Kỳ với công dân Mỹ.

Nhưng Gerecht, một nguyên chuyên gia CIA về Trung Đông, đã đi trước cả phó tổng thống. Trong Weekly Standard, số ra ngày 6-8-2002, dưới nhan đề “Thay Đổi Chế Độ ở Iran?”, Gerecht đã tuyên bố: Tổng Thống Bush là người chấp hữu một “hiệu triệu cách mạng…ở Trung Đông.” George W. Bush đã “thái mỏng xuyên qua các biên giới quốc gia và đường phân ranh các nền văn minh với quyết đoán không chút dè dặt về một chuẫn mực đạo đức. Tổng Thống [Bush] đã tuyên bố: ‘Nhân dân Iran cần cùng những tự do, những nhân quyền, và những cơ hội như nhân dân trên khắp thế giới.’ Hoa Kỳ sẽ đứng ‘cùng nhân dân khắp nơi, quyết tâm xây dựng một thế giới tự do, đầy nhân cách, và khoan dung.”[10]

Phân tích gia Gerecht tiếp nối ngay nơi Bush-phúc-âm đã bỏ dở: xứ sở cần tấn công trong tháng 8-2002 — đã hẳn là để giúp nhân dân của xứ sở quan — là chính Iran.

Gerecht đã không chút nghi ngờ “đại đa số nhân dân Iran xem guồng máy cai trị của hàng giáo phẩm, trong cơ bản, là không chính đáng. Hàng giáo phẩm Tây-Phương-hóa sâu đậm của giới lãnh đạo tôn giáo Iran — và các “mullahs” nầy ở cả hai phía của sự phân chia mang tên ‘ôn hòa-bảo thũ’ — hiểu rất rõ ngôn ngữ ‘Ba Tư: từ ‘azadi’ có nghĩa: ‘tự do’, có lẽ là một từ rất gợi cảm trong ngôn ngữ hiện nay…Azadi cũng đã trở thành liên kết không thể tách rời với Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ.”[11]

Đây là phương cách tân bảo thũ đã viết và tư duy kể từ tháng 8-2002. Thật khó lòng để biết điều gì đáng ngạc nhiên hơn: chứng tỏ nghệ thuật ngữ văn hay lòng tự tin liên quan đến tính khôn ngoan của chiến tranh chống lại một quốc gia 70 triệu dân.

Tuy nhiên, các chẩn đoán tổng quát đối với giới tân bảo thũ không bao giờ thỏa đáng, và Gerecht trong năm 2002 đã phải liệt kê các lợi điểm đặc biệt của tình trạng hỗn độn hay thiếu trật tự ở Iraq và Iran:

“Một cuộc xâm lăng của Hoa Kỳ [vào Iraq] rất có thể sẽ đưa đến các cuộc dấy loạn ở Iran — cùng lúc với các cuộc trỗi dậy trong các thành phố quan trọng, đơn thuần vượt khỏi khả năng chế ngự của các đơn vị kiểm soát rối loạn trung thành với chế độ. Quân đội hay Đội Vệ Binh Cách Mạng có thể phải được huy động một cách sâu rộng, và đây là lúc tình hình có thể trở nên lý thú.”[12]

Đó là phương cách phán đoán của Gerecht. Bush, tiếng nói của tự do, có thể được sùng bái như một hoàng đế nhân từ đứng từ xa:

“Đã hẳn, Tổng Thống Bush không cần đến các đợt phát sóng trên Kênh Truyền Hình Quốc Gia Iran để gửi thông điệp của mình đến Cộng Hòa Hồi Giáo. Mọi việc Bush nói sẽ được chuyển tải với tốc độ ánh sáng xuyên quốc gia. Tổng Thống chỉ cần tiếp tục tuyên bố tự do là quyền bẩm sinh của quần chúng Hồi Giáo.”[13]

Đó là công thức tân bảo thũ dành cho dân chủ ở Trung Đông: phổ biến lời lẽ của George W. Bush đến quần chúng khắp nơi, xâm lăng Iraq, và vận động quần chúng xuống đường đòi hỏi dân chủ ở Iran [hỗ trợ nếu cần bởi bom đạn và quân đội Mỹ].

Muốn có một cái nhìn lần chót cùng một định kiến, chúng ta chỉ cần lắng nghe lời khuyên của Gerecht về Syria trong tháng 6-2014. Viết trên Weekly Standard, Gerecht, một lần nữa, đã bác bỏ ý niệm tìm kiếm sự trợ giúp từ Iran trong cuộc chiến chống lại Nhà Nước Hồi Giáo [IS]. “Kẻ Thù của Kẻ Thù của Tôi Là Kẻ Thù của Tôi”[14] là nhan đề bài viết, và bài viết cũng nhằm cùng mục đích và cơ sở trên các sự kiện thực tế tối thiểu. Các thành phần khủng bố Sunni được mô tả như những trẻ con khùng điên, dĩ nhiên cực đoan, nhưng còn quá sớm để đánh giá đường đi nước bước hay quỹ đạo: những thay đổi do các thành phần nầy đem lại cuối cùng cũng có thể “không hẳn không thích hợp với quyền lợi của Hoa Kỳ”.

Một mặt khác, các đạo diễn Shiite của Iran từ lâu đã trưởng thành và sẽ không bao giờ thay đổi. Mùa hè năm rồi, hy vọng của Gerecht là số thương vong lớn lao của Iran trong cuộc chiến chống lại IS đã có thể đưa đến một làn sóng đồng loạt trỗi dậy — một tiên đoán đã không xẩy ra trong năm 2003.

“Cuộc xung đột Sunni-Shiite hiện nay, nếu số tử vong lên cao và quá nhiều ngân khố quốc gia đã bị phung phí, cũng có thể đưa đến các làn sóng gây sốc trong cơ bản làm suy yếu chế độ các giáo phẩm…Tình hình có thể trở nên bạo động bên trong Cộng Hòa Hồi Giáo.”[15]

Viễn kiến hỗ trợ chính sách nầy không mấy khác một khoan dung chiến lược hay chọn lựa đối với al-Qaeda và IS, với mục tiêu hủy diệt Iran.

LIỆU CUỘC CHIẾN CHỐNG KHỦNG BỐ SẼ ĐƯỢC THẢO LUẬN?

Bằng cách nào các ý kiến trên đây có thể được đem ra tranh luận trong chính trị Hoa Kỳ? Câu trả lời sẽ phải đến từ những gì còn sót lại của đảng đối lập tiềm năng trong cuộc chiến chống khủng bố.

Nghị sĩ Chris Murphy thuộc bang Connecticut là một biệt lệ đáng lưu ý, nhưng trong phần lớn, phe Dân Chủ đang bận rộn với chính sách đối nội. Nếu gần 2/3 Quốc Hội ngày nay đang sẵn sàng bỏ phiếu chống lại thỏa ước Iran, sự bối rối nầy là kết quả của nhiều năm chểnh mãng mang tính hệ thống. Sherrod Brown, Elizabeth Warren, Dick Durbin, Ron Wyden, Tammy Baldwin, và một số khác, có tài lãnh đạo một đối lập chống lại đường lối theo đuổi cuộc chiến chống khủng bố trong kế hoạch tân bảo thũ, nhưng để có bất cứ hiệu quả nào, họ có thể đã phải thường xuyên lên tiếng về chính sách đối ngoại hơn.

Trong khi đó, Đảng Cộng Hòa và các nhà tài trợ tỉ phú đang theo đuổi trò chơi dài hạn về Iran. Họ rất muốn chiếm được đa số 2/3 để vượt qua quyết định phủ quyết của Obama đối với kết quả biểu quyết của Quốc Hội chống lại thỏa ước nguyên tử, nhưng họ không thực sự chờ đợi điều đó sẽ xẩy ra. Sự thượng tồn của bất cứ thỏa ước nào, tuy vậy, còn tùy thuộc không những ở khả năng được chấp thuận, mà còn ở tính chính đáng. Hy vọng của phe Cộng Hòa là làm nãn lòng quần chúng hậu thuẩn thỏa ước P5+1 đến độ tổng thống kế tiếp và thành viên Quốc Hội kế tiếp có thể phải cần hết sức can đảm và kiên trì với sự tham dự của dân Mỹ.

Trong cột báo Foreign Affairs nói trên đây, Daniel Levy cũng đã kết luận, trò chơi lâu dài cũng là chiến lược của Benjamin Netanyahu:

“Netanyahu sẽ chọn một “twofer” — nếu Netanyahu thua vì thiếu một siêu đa số chống lại phủ quyết ở Quốc Hội, y vẫn còn có thể thành công bằng cách duy trì thỏa ước Iran trong vòng tranh luận chính trị và mong manh, và ngăn ngừa mọi ‘bớt căng thẳng dài lâu hơn nữa’ với Iran. Trong trường hợp nầy, hy vọng chính quyền kế tiếp ở Hoa Kỳ có thể tái tục nguyên trạng trước đây trong tháng 1-2017.”[16]

Lúc đó những gì chúng ta thấy không phải đơn thuần một nỗ lực tập trung sẽ chấm dứt với một biểu quyết thỏa ước hạt nhân P5+1 bởi Thượng Viện trong tháng 9. Đó chính là giai đoạn sớm sủa nhất của chiến dịch vận động hành lang nhằm đăng quan một tổng thống Cộng Hòa với quan điểm thích ứng trong tháng 1-2017.

Chúng ta có thể nhận diện phương tiện tài chánh đang sẵn sàng cho một cuộc vận động lâu dài, và tuy vậy, vẫn băn khoăn với tính độc hại của chiến dịch hủy diệt Iran.

Những gì đang thực sự cho phép phe chủ chiến kiên trì bước tới như họ đang làm? Bên trong Do Thái, nguyên nhân là một thần học chính trị buộc các tín đồ phải tiếp tục các cuộc chiến ngăn ngừa không dứt, chống lại các kẻ thù chống đối sự hiện hữu của một nhà nước Do Thái ngay từ ngày được sáng lập. Đây là nỗi lo sợ mang tính tự vệ nhằm đáp ứng một thực tế lịch sử không thể chối cãi. Giới tân bảo thũ và những phần tử hiểu biết hơn trong số những ai đi theo phe Cộng Hòa, thật khó lòng hiểu nổi — và vẫn ngày một khó hiểu hơn mãi cho đến khi bạn hiểu được, đối với họ, chúng ta là Rome và Đảng Cộng Hòa là cái nôi của các đế vương Mỹ tương lai, các pháp quan La Mã, và các thống đốc thuộc địa.

Như nhà viết tiểu luận chính trị và bất đồng chính kiến Tiệp Khắc, Vaclav Havel, có lần đã viết: “Ý thức hệ là chiếc cầu các lý do từ chối” một chính quyền dành cho người dân dưới quyền cai trị. Giữa những năm 2001 và 2009, chính quyền Hoa Kỳ đang nằm trong tay phái tân bảo thũ; phe nầy đang có một cơ may và sự phán xét của quần chúng không mấy thuận lợi cho họ; nhưng trong một bầu không khí hỗn loạn về Trung Đông, phái tân bảo thủ đang tìm hết cách tái xây dựng cây cầu ý thức hệ của họ. Họ là những người cuồng tín quá khích nhưng đồng thời cũng là những tay chơi nhà nghề thận trọng, và phối hợp tài chánh dồi dào với guồng máy tuyên truyền được hồi sinh vẫn có thể thành công xóa mờ những ký ức không mấy tốt đẹp. Họ cũng có thể không bị kết án thiếu chân thật.

Khi một lý thuyết gia trong định chế tư duy tân bảo thũ, Cơ Quan Bảo Vệ các nền Dân Chủ hay American Enterprise Institute, xác quyết: dân chủ là những gì quần chúng Iran sẽ sớm thủ đắc khi Hoa Kỳ đã thành công làm suy yếu các tài nguyên của xứ nầy, lý thuyết gia đã hẳn luôn tin tưởng những gì ông ta đang nói. Sự phóng chiếu hình như đúng với họ ngày nay hay trong những năm 2002, 2007, và 2010, cũng như sẽ xác thực trong năm 2017 khi một tổng thống mới, tốt hơn hết là một thanh niên với nghị lực và tinh thần giống như George W. Bush, kế thừa một Barack Obama yếu đuối và đáng trách. Đối với những người như thế, chiến tranh sẽ không bao giờ dứt, và một cuộc chiến mới luôn đang chờ đợi ở phía trước. Họ sẽ luôn đẩy tới cho đến khi thực sự bị chận đứng.

Nguyễn Trường

Irvine, California, U.S.A.

23-9-2015

                                                                                                         

[1] “We’re going to push and push until some larger force makes us stop.”

[2] “Cheney is not subtle, and he has never hidden the ball. The amazing thing is that he does what he says. Relentlessness is a quality I saw in him and Addington that I never saw before in my life.”

[3] “We had to end the mindset that got us there in the first place.  It was a mindset characterized by a preference for military action over diplomacy; a mindset that put a premium on unilateral U.S. action over the painstaking work of building international consensus; a mindset that exaggerated threats beyond what the intelligence supported.  Leaders did not level with the American people about the costs of war, insisting that we could easily impose our will on a part of the world with a profoundly different culture and history.  And, of course, those calling for war labeled themselves strong and decisive, while dismissing those who disagreed as weak — even appeasers of a malevolent adversary.”

[4] “The same mindset,” the president remarked, “in many cases offered by the same people who seem to have no compunction with being repeatedly wrong, led to a war that did more to strengthen Iran, more to isolate the United States, than anything we have done in the decades before or since.”

[5] “I believe [the terms of the agreement] are in America’s interest and Israel’s interest.  And as president of the United States, it would be an abrogation of my constitutional duty to act against my best judgment simply because it causes temporary friction with a dear friend and ally.”

[6]“Permanent, inveterate antipathies against particular nations, and passionate attachments for others, should be excluded,” said Washington, because “a passionate attachment of one nation for another produces a variety of evils. Sympathy for the favorite nation, facilitating the illusion of an imaginary common interest in cases where no real common interest exists, and infusing into one the enmities of the other, betrays the former into a participation in the quarrels and wars of the latter without adequate inducement or justification.”

[7] Obama concluded his argument by saying that “alternatives to military action will have been exhausted if we reject a hard-won diplomatic solution that the world almost unanimously supports. So let’s not mince words.  The choice we face is ultimately between diplomacy or some form of war — maybe not tomorrow, maybe not three months from now, but soon.”

[8] At the end of his visit to Moscow in June 1988, Reagan was asked by the ABC News reporter Sam Donaldson, “Do you still think you’re in an evil empire, Mr. President?” “No,” Reagan replied. “I was talking about another time and another era.” And he stuck to that answer at a press conference the next day, adding: “I think that a great deal of [the change] is due to the General Secretary, who I have found different than previous Soviet leaders… A large part of it is Mr. Gorbachev as a leader.”

[9] “A loyalist of Iran’s supreme leader and a master of nuclear deceit,” Rouhani, as interpreted by Dubowitz, is a false friend whose new authority “doesn’t get us any closer to stopping Iran’s nuclear drive.”

[10] It is said that Dick Cheney’s August 26, 2002, speech to the Veterans of Foreign Wars marked the first formal description of the War on Terror offered by a U.S. leader to American citizens. But Gerecht, a former CIA specialist on the Middle East, stole a march on the vice president.  In the Weekly Standard of August 6, 2002, under the title “Regime Change in Iran?,” he declared his belief that President Bush was the possessor of a “revolutionary edge and appeal… in the Middle East.” The younger Bush had “sliced across national borders and civilizational divides with an unqualified assertion of a moral norm. The president declared, ‘The people of Iran want the same freedoms, human rights, and opportunities as people around the world.’ America will stand ‘alongside people everywhere determined to build a world of freedom, dignity, and tolerance.’”

[11] Gerecht had no doubt that“the Iranian people overwhelmingly view clerical rule as fundamentally illegitimate. The heavily Westernized clerics of Iran’s religious establishment — and these mullahs are on both sides of the so-called ‘moderate-conservative’ split — know perfectly well that the Persian word azadi, ‘freedom,’ is perhaps the most evocative word in the language now… Azadi has also become indissolubly associated with the United States.”

[12] “An American invasion [of Iraq] could possibly provoke riots in Iran — simultaneous uprisings in major cities that would simply be beyond the scope of regime-loyal specialized riot-control units. The army or the Revolutionary Guard Corps would have to be pulled into service in large numbers, and that’s when things could get interesting.”

[13] “President Bush, of course, doesn’t need National Iranian Television broadcasts to beam his message into the Islamic Republic. Everything he says moves at light speed through the country. The president just needs to keep talking about freedom being the birthright of Muslim peoples.”

[14] “The Enemy of My Enemy Is My Enemy”

[15]“It is possible that the present Sunni-Shiite conflict could, if the Iranian body count rises and too much national treasure is spent, produce shock waves that fundamentally weaken the clerical regime… Things could get violent inside the Islamic Republic.”

[16]”Netanyahu is going for a twofer — if he loses on the veto-proof super majority in Congress, he can still succeed in keeping the Iran deal politically controversial and fragile and prevent any further détente with Iran. The hope, in this case, is that the next U.S. administration can resume the status quo ante in January 2017.”

Advertisements