SIÊU CƯỜNG DUY NHẤT VÀ ĐỊA VỊ BÁ CHỦ TOÀN CẦU TRONG THẾ KỶ XXI

Qua nhiều phương cách lẫn tránh các giới bình luận và làm chính sách nhìn xa thấy rộng, Tổng Thống Barack Obama đang theo đuổi một chiến lược địa-chính-trị tinh tế, nếu thành công, rất có thể sẽ đem lại cho Hoa Thịnh Đốn cơ may duy trì uy quyền bá chủ toàn cầu lâu dài trong thế kỷ XXI. Sau sáu năm chuẩn bị thầm lặng và đôi khi bí mật, Tòa Bạch Ốc mới đây đã tiết lộ vài sáng kiến ngoại giao bạo dạn, mang tính chiến lược, trong ba lục địa nhằm chế ngự đà đi lên của Trung Quốc. Trong khi các động thái nầy đang diễn tiến, Obama đã tự chứng tỏ như một trong số những tay chơi vĩ đại hiếm hoi, chỉ xuất hiện trong mỗi một hay hai thế hệ, với khả năng vượt khỏi các chính sách đối ngoại đơn thuần và đang dõi theo trò chơi địa-chính-trị toàn cầu của siêu cường duy nhất.

Kể từ khi lên nắm chính quyền trong năm 2009, Obama luôn phải đối diện với làn sóng chỉ trích, tả cũng như  hữu, trong quốc nội cũng như từ thế giới bên ngoài, thậm chí còn bị coi thường như  gương mặt lãnh đạo thiếu may mắn, ngay cả không chút hy vọng.

Chỉ vài tháng sau khi vào Bạch Ốc, Tổng Thống tả phái Venezuela, Hugo Chavez, đã đưa ra nhận xét: “[Obama] là người ngu dốt; ông ta cần đọc và nghiên cứu chút ít để hiểu thực tế.” Trong năm 2012, Thượng Nghị Sĩ Cộng Hòa, John McCain, cũng phàn nàn: “Tôi nghĩ ông ta đã phóng chiếu một lập trường yếu đuối và … thiếu khả năng lãnh đạo”. Trong tháng 4-2015,  một nhà bình luận thuộc Heritage Foundation bảo thũ cũng đã đưa ra ý kiến: “Sau sáu năm, ông ta vẫn phơi bày nhiều hiểu biết sai lầm đáng lo ngại đối với uy quyền và vai trò lãnh đạo của Hoa Kỳ trong hệ thống thế giới.” Ngay cả nguyên Tổng Thống Dân Chủ Jimmy Carter gần đây cũng đã xem thường các thành tựu trong chính sách đối ngoại của Obama như “tối thiểu.” Nói lên quan điểm của nhiều người Mỹ, Donald Trump đã chế nhạo viễn kiến toàn cầu của Obama: “Chúng ta đang có một tổng thống chẳng hiểu gì ráo trọi.”[1]

Tuy vậy, chúng ta cũng cần phải công bình ghi nhận công lao khi xứng đáng. Không một”tuyên ngôn” hay “chính sách mang nhãn hiệu dao to búa lớn,” chẳng hạn như “tay ba”, “chủ thuyết Nixon”, hay “nghị trình tự do,” Obama đã từng bước sửa chữa các quá đáng và tai họa do  nhiều chính sách đối ngoại thất bại đã gây ra, cũ cũng như mới, và rồi đã hành động khéo léo để tái xây dựng ảnh hưởng toàn cầu đang ngày một mờ nhạt của Hoa Kỳ.

Trên bình diện lịch sử, Obama đã khởi sự điều chỉnh các quá đáng và tai họa, phần lớn hậu quả của tầm với đế quốc quá trớn, có thể truy nguyên từ vài thế hệ lãnh đạo với khuynh hướng hành sử quyền lực đơn phương. Trong quang phổ quyền hạn nhà nước, Obama đã từ tốn dịch chuyển ra khỏi chiến tranh cưỡng chế, chiếm đóng, tra tấn, và nhiều hình thức quân sự đơn phương khác, để hướng đến hợp tác thương mãi, ngoại giao, và an ninh hỗ tương — tất cả đều nhằm mục tiêu tìm kiếm một hình thái ưu thế mới cho Hoa Kỳ.

Trước hết, Obama đã phải đối phó với các tai họa trong những năm sau biến cố 11/9. Nhìn qua kiến chiếu hậu lịch sử, phe Cộng Hòa Bush-Cheney đã tưởng tượng Trung Đông là lối lên xa lộ tiến tới quyền lực quốc tế ngày một lớn mạnh, và đã phung phí ít ra cũng trên dưới 2.000 tỉ USD và số lớn uy tín của Hoa Kỳ, trong một nỗ lực sai lầm “cố biến ảo tưởng  thành hiện thực”.

Kể từ ngày đầu của nhiệm kỳ tổng thống, Obama đã nỗ lực rút khỏi hay cải thiện bầu ám khí do Bush gây ra ở Afghanistan và Iraq [mặc dù chỉ với rất ít thành công], trong khi liên tục đề kháng các áp lực liên tục của phe Cộng Hòa tái tăng cường cuộc chiến thường trực và tai họa ở Trung Đông họ xem như của chính họ.

Thay vì chiếm đóng bất tận với 170.000 quân ở Iraq và 101.000 ở Afghanistan, lực lượng quân sự của Obama đã chấp nhận một số cố vấn lưu động, các biện pháp oanh kích, các phi cơ tự động, và các cuộc hành quân đặc biệt. Tuy nhiên, trong tất cả các hình thức nầy, Obama cũng đã hành động bạo dạn hơn trước rất nhiều.

CÁC TAI HỌA CHIẾN TRANH LẠNH CHE DẤU

Các nhà ngoại giao của Obama, chẳng hạn, đã tìm kiếm hòa hoãn với ba quốc gia“ngoài vòng pháp luật” — Miến Điện, Iran, và Cuba — với lập trường không đội trời chung với Hoa Kỳ, bắt nguồn từ vài can thiệp bí mật tai họa của CIA trong thời Chiến Tranh Lạnh.

Năm 1951, trong khi Chiến Tranh Lạnh đang bao trùm thế giới, Tổng Thống Dân Chủ, Harry Truman, đã cho phép CIA trang bị vũ khí cho 12.000 binh sĩ Trung Hoa Dân Quốc  bị các lực lượng cộng sản đánh đuổi ra khỏi Trung Quốc và đang lẫn tránh trong vùng Bắc Miến Điện. Kết quả: ba nỗ lực tái chiếm xứ sở quê hương đều đã thất bại. Sau khi bị các địa phương quân cấp tỉnh đẩy lùi khỏi biên giới, binh sĩ Trung Hoa Dân Quốc, một lần nữa, dưới sự hỗ trợ và che chở của CIA, đã chiếm đóng vùng Đông Bắc Miến Điện, khiến Rangoon đã phải chính thức đưa nội vụ ra trước Liên Hiệp Quốc và đại sứ Hoa Kỳ ở Miến Điện đã phải từ chức để phản đối.

Tác vụ nầy là một trong nhiều tai họa lớn trong lịch sử rối reng, với các  can thiệp tương tự của CIA, đã đưa đến không những một cải tổ quan trọng trong nội bộ “Cơ Quan”, mà còn gây ra một gián đoạn dài lâu trong quan hệ song phương và góp phần vào quyết định tự cô lập khỏi cộng đồng quốc tế của Miến Điện. Ngay cả vào những giờ phút chót của Chiến Tranh Lạnh 40 năm sau, Hội Đồng Quân Nhân của Miến Điện vẫn kiên trì với lập trường tự cô lập và dần dà phát triển các quan hệ ngày một khắng khít hơn với Trung Quốc, do đó, đã dành cho Bắc Kinh quyền tiếp cận đặc biệt đối với các tài nguyên dồi dào của mình cũng như quyền tiếp cận chiến lược với Ấn Độ Dương.

Trong nhiệm kỳ đầu, Obama đã phối hợp các nỗ lực để hàn gắn những lỗi lầm chiến lược trong chính sách bao vây liên-lục-địa Âu-Á  của Hoa Thịnh Đốn. Tổng Thống đã gửi Hillary Clinton, với sứ mệnh chính thức đầu tiên đến Miến Điện bởi một bộ trưởng ngoại giao sau hơn 50 năm; chỉ định đại sứ đầu tiên trong 22 năm; và, trong tháng 11-2012, đã trở thành tổng thống đầu tiên viếng thăm Miến Điện. Trong một diễn văn đọc trước các sinh viên Đại Học Rangoon, Obama đã gọi các ngã tư đường dọc biên giới các xứ “Đông và Nam Á” — “các quốc gia đông dân nhất hành tinh.”[2]

Các lỗi lầm Chiến Tranh Lạnh của Hoa Thịnh Đốn đều đơn thuần mang tính lưỡng đảng. Tiếp theo sau Truman, và với kinh nghiệm bản thân như Tư Lệnh Các Đồng Minh ở Âu Châu, Tổng Thống Cộng Hòa Dwight Eisenhower đã xúc tiến Chiến Tranh Lạnh từ Tòa Bạch Ốc, với Hội Đồng An Ninh Quốc Gia như bộ tham mưu và CIA như đội quân bí mật. Trong 170 cuộc hành quân trong 48 quốc gia do Eisenhower cho phép, hai tác vụ phải được xếp vào loại các thất bại lớn lao, đặc biệt đã gây tai hại dài lâu cho địa vị toàn cầu của Hoa Kỳ.

Trong năm 1953,  sau khi Thủ Tướng dân kiểm Iran [populist Prime Minister], Mohammad Mossadeq,  thách thức độc quyền của đế quốc Anh đối với kỹ nghệ dầu lửa Iran, Eisenhower đã kín đáo cho phép  CIA và tình báo Anh Quốc “thay đổi chế độ”.[3] Mặc dù xuýt gặp thất bại, CIA cuối cùng cũng đã thành công áp đặt một Shah non trẻ, chưa hề được thử thách, lên nắm chính quyền và giúp củng cố một chế độ chuyên chế, qua việc huấn luyện cảnh sát mật vụ “Savak”về tra tấn và giám sát. Trong khi Hoa Thịnh Đốn hoan hỉ với “khả năng dám làm kiễu-nhân-viên-mật-vụ”, quần chúng Iran đã luôn sôi sục, và mãi cho đến năm 1979, đã phải xuống đường lật đổ Shah, với sinh viên tràn vào tòa đại sứ Hoa Kỳ, lôi kéo theo 35 năm gián đoạn quan hệ làm suy yếu địa vị của Hoa Thịnh Đốn ở Trung Đông.

Tháng 9-2013, bác bỏ lời kêu gọi của phái tân bảo thũ về một giải pháp quân sự cho “vấn đề Iran”, Obama đã loan báo với đầy cảm kích: “tiếp xúc đầu tiên với lãnh đạo của xứ nầy sau năm 1979”. Bằng cách nầy, tổng thống đã phát động hai năm ngoại giao bền bỉ và đã đạt được “thỏa ước lịch sử ngưng chương trình nguyên tử của Iran”. Từ góc nhìn địa chính trị, thỏa hiệp tương lai nầy đã giúp tránh được các hành động quân sự phe Cộng Hòa thèm muốn — loại hành động rất có thể đã xô đẩy Hoa Thịnh Đốn vào vũng lầy một cuộc chiến Trung Đông khác, và cũng có thể đã đánh mất bất cứ cơ may nào cho những gì, trong năm 2011, ngoại trưởng Clinton lần đầu tiên đã gọi “một chốt trong thực tại toàn cầu mới.” Hillary cũng đã nói đến “bước ngoặt của chúng tôi đến Á Châu-Thái Bình Dương,” một chính sách, trong cuộc họp báo ở Bắc Kinh, Obama đã có thể chào hàng như “chốt của chúng tôi ở Á Châu.”[4]

Trong những tháng cuối nhiệm kỳ trong năm 1960, Tổng Thống Eisenhower cũng đã cho phép CIA xâm lăng Cuba, tin tưởng, với 1.000 dân tỵ nạn Cuba, được không lực Hoa Kỳ yểm trợ một cách nào đó, có thể lật đổ chế độ cách mạng đã bám rễ của Fidel Castro. Kế thừa chiến dịch với linh cảm tai họa, Tổng Thống John F. Kennedy đã buộc CIA tiết giảm kích cỡ nhưng vẫn không chận đứng kế hoạch tấn công. Do đó, CIA đã chuyển tải số dân tỵ nạn Cuba đến bờ biển hẻo lánh, đầm lầy,  khó kiếm lối đi, 50 dặm cách xa địa điểm trú ẩn hoạch định trên đồi núi, và đứng nhìn trong khi không lực Cuba dội bom cho đến khi toàn bộ nhóm phản loạn đã phải đầu hàng.

Hậu quả: Trong vòng 40 năm kế tiếp, quan hệ ngoại giao bị gián đoạn và cấm vận thất bại đã làm suy yếu lập trường của Hoa Thịnh Đốn trong Chiến Tranh Lạnh, trong vùng biển Caribbean, và ngay cả ở Nam Phi. Sau nhiều thập kỷ cô lập ngoại giao và cấm vận kinh tế vô hiệu trong nỗ lực thay đổi chế độ, Tổng Thống Obama đã khởi đầu sáng kiến làm tan băng trong các quan hệ và đạt đỉnh cao trong tháng 7-2015 với quyết định tái-mở-cửa tòa đại sứ Hoa Kỳ ở Havana [sau khi đã ngưng hoạt động trong gần 55 năm].

NGOẠI GIAO MỸ KIM CỦA OBAMA

Từ sửa chửa đến phục hồi, từ quá khứ đến tương lai, Tổng Thống Obama đã sử dụng vai trò “quốc gia tiêu thụ số một của hành tinh” để tạo lập dạng thức ngoại giao mới với đồng mỹ kim. Chiến lược của Obama là nhằm lôi kéo các đối tác mậu dịch Âu-Á của Trung Quốc trở vào quỹ đạo Hoa Thịnh Đốn. Trong khi Bắc Kinh đã luôn vận động thu hút nhiều quốc gia Âu-Á-Phi châu vào “đại đảo thế giới thống nhất” với Trung Quốc ở trung tâm, Obama đã đáp ứng với chiến lược địa-chính-trị bạo dạn chia ba khối lục địa rộng lớn đó qua việc tái định hướng mậu dịch hướng đến Hiệp Chủng Quốc.

Suốt thập kỷ sau biến cố 11/9,  trong khi Hoa Thịnh Đốn phung phí xương máu và tiền bạc ở Trung Đông,  Bắc Kinh đã đầu tư hàng nghìn tỉ USD, thặng dư thương mãi với Hoa Kỳ, vào các kế hoạch hội nhập kinh tế trong liên-lục-địa Âu-Á. Trong quá trình, Trung Quốc đã, hay đang xây dựng, hạ tầng cơ sở phức tạp và tinh vi: hệ thống các trục hỏa xa cao tốc và các tuyến dẫn dầu và hơi đốt thiên nhiên trong khắp vùng Sir Halford Mackinder có lúc đã gọi “world island” hay “đại đảo thế giới”. Nói về các chốt Á Châu và nhiều nơi khác, trong một tiểu luận uyên thâm nhan đề “Chốt Địa Lý Lịch Sử,” [The Geographical Pivot of History], nhà địa lý học lừng danh Anh Quốc, người đã bắt đầu nghiên cứu địa-chính-trị, đã vẽ lại bản đồ thế giới, tái quan niệm Phi châu, Á châu, và Âu châu, không như ba lục địa riêng biệt, nhưng như một lục địa duy nhất, bao la và rộng lớn, chỉ với kích cỡ, nếu hội nhập một cách nào đó, sẽ trở thành trung-tâm-địa của quyền lực toàn cầu [epicenter of global power].

Trong tham vọng thể hiện viễn kiến của Mackinder một thế kỷ sau, Trung Quốc đã khởi động thống nhất Âu-Á trên bình diện kinh tế qua kế hoạch tài trợ khổng lồ với tín dụng, ngoại viện, và Ngân Hàng Đầu Tư Hạ tầng Cơ Sở Á Châu, thu hút 57 quốc gia thành viên, kể cả vài đồng minh then chốt của Hoa Thịnh Đốn. Với số dự trữ 4.000 tỉ USD, Trung Quốc đã đầu tư 630 tỉ ở hải ngoại trong thập kỷ vừa qua, hầu hết bên trong “đại đảo thế giới ba-lục-địa”.

Như một chỉ số biểu thị ảnh hưởng, Trung Quốc hiện đang chiếm 79% đầu tư ngoại quốc ở Afghanistan, 70% ở Sierra Leone, và 83% ở Zimbabwe. Với số đầu tư hải ngoại khổng lồ sẽ lên đến một nghìn tỉ USD vào năm 2025, Trung Quốc đã thành công tăng gấp đôi ngạch số mậu dịch hàng năm với Phi châu trong bốn năm qua lên 222 tỉ, gấp 3 con số 73 tỉ của Hoa Kỳ. Bắc Kinh cũng đang huy động lực lượng quân sự có đủ tiềm năng ngăn cách các cơ sở trong vòng cung các căn cứ, các hạm đội hải quân, và các đồng minh quân sự Hoa Thịnh Đốn hiện bao trùm Đại Đảo Thế Giới từ Anh Quốc đến Nhật Bản kể từ 1945.

Tuy nhiên, trong những tháng gần đây, Obama đã buông lỏng chiến lược phản công, và thay vào đó,  đã tìm cách phân hóa “đại đảo thế giới”trên bình diện kinh tế dọc theo đường phân ranh lục địa tại Ural Mountains qua hai thỏa ước mậu dịch nhằm nắm giữ ít nhất là “vị trí trung cực toàn cầu” [central global pole position] với “gần 2/3 GDP thế giới và 3/4 mậu dịch toàn cầu.” Với sự ký kết Đối Tác Xuyên Thái Bình Dương [TPP] mới đây, Hoa Thịnh Đốn hy vọng sẽ tái định hướng phần lớn số mậu dịch lớn lao trong phân nửa Á châu của liên lục địa Âu-Á hướng đến Bắc Mỹ.

Nếu một gói thương nghị song song khác thành công vào thời điểm quy định trong năm 2016, Hoa Thịnh Đốn sẽ tái định hướng phân bộ Liên Hiệp Âu châu  [EU] — phần vẫn còn là nền kinh tế duy nhất và lớn nhất thế giới và chiếm 16% mậu dịch thế giới , hướng đến Hoa Kỳ qua Đối Tác Mậu Dịch và Đầu Tư Xuyên Đại Tây Dương [TTIP].

Cuối cùng, trong nước bài ngoại giao cá nhân độc đáo, hầu hết các cơ quan truyền thông Hoa Kỳ đã hiểu sai lầm như một chuyến du hành mang tính tình cảm, Obama đã ve vãn các quốc gia Phi châu một cách quyết liệt, triệu tập cuộc họp thượng đỉnh tại  Bạch Ốc, quy tụ trên 50 lãnh đạo Phi châu trong năm 2014 và một chuyến công du đến Đông Phi trong tháng 7-2015.

Với lối nhìn sáng suốt  gai góc thường lệ của mình, báo “Global Times” của Bắc Kinh đã nhận chân chính xác mục tiêu thực sự của ngoại giao Phi châu của Obama: “tái lập thế thăng bằng đối với ảnh hưởng ngày một lớn mạnh của Trung Quốc và phục hồi lực đòn bẩy trong quá khứ của Hoa Kỳ.”[5]

CÁC THỎA ƯỚC MẬU DỊCH

Khi các chiến lược gia lỗi lạc chơi bài địa-chính-trị, các “nước đi  bài” [moves]  thường được thể hiện một cách vô cảm lạnh lùng,  không mấy quan tâm đến nạn nhân bàng quan trong quốc nội hay ở hải ngoại. Cả hai thỏa ước nầy, cực kỳ thiết yếu đối với chiến lược địa-chính-trị của Obama, sẽ mang lại các lợi điểm ngoại giao cũng như phí tổn xã hội lớn lao. Chúng ta có thể nói rõ như sự lựa chọn giữa: duy trì đế quốc ở hải ngoại và dân chủ lâu bền ở quốc nội.[6]

Trong sáu năm qua, Obama đã đầu tư vào địa hạt chính trị và ngoại giao nhằm thăng tiến Đối Tác Mậu Dịch Tự Do Xuyên Thái Bình Dương [TPP] vừa mới được ký kết bởi 12 xứ thành viên,  một thỏa ước đã cẩn thận loại trừ Trung Quốc với mục tiêu phân chia ” đại đảo thế giới [world island]” dọc bờ Thái Bình Dương. Qua mặt bất cứ liên minh kinh tế nào khác, ngoại trừ Liên Hiệp Âu Châu, TPP sẽ là liên minh giữa Hoa Kỳ và 11 quốc gia chung quanh lưu vực Thái Bình Dương, kể cả Australia, Canada, Chile, Nhật, Malaysia, Mexico, và Việt Nam, với một GDP tổng thể 28.000 tỉ USD hay 40% “Gross World Product” [sản ngạch toàn cầu gộp] hay 1/3 tổng mậu dịch toàn cầu.

Với toàn bộ các khu vực như canh nông, dòng chảy các dữ liệu, và các kỹ nghệ dịch vụ, TPP hướng tới một hội nhập kinh tế Thái Bình Dương vô song so với bất cứ thỏa ước mậu dịch hiện hữu nào khác. Trong quá trình, TPP có thể lôi cuốn các quốc gia năng suất cao [highly productive nations] khỏi Trung Quốc và vào quỹ đạo Hoa Kỳ.

Không có gì phải ngạc nhiên, Obama đã phải đối mặt với sự chống đối mãnh liệt ngay trong nội bộ Đảng Dân Chủ, từ Thượng Nghị Sĩ Elizabeth Warren và nhiều thành phần khác,  kịch liệt chỉ trích bản chất bí mật cao độ của các cuộc thương nghị thỏa ước và phương cách có thể  gây thương tổn cho pháp chế lao động và môi trường của Hoa Kỳ. Làn sóng chỉ trích gay gắt cay độc đến trình độ, trong tháng 6-2015, Obama đã phải cần đến các lá phiếu Cộng Hòa để được Thượng Viện chuẩn y quyền được đi theo “lối  tắt chóng vánh” [“fast track” authority] để hoàn tất vòng thương nghị chót trong những tháng sắp tới.

Nhằm lôi kéo trục phía Tây của “đại đảo thế giới,” lẽ ra của Trung Quốc, Obama cũng đang tích cực theo đuổi thương nghị nhằm chi phối TTIP với Liên Hiệp Âu Châu và nền kinh tế 18.000 tỉ USD. TTIP đang tìm kiếm hội nhập kinh tế trọn vẹn hơn giữa Âu Châu và Hoa Kỳ qua thích ứng hóa mạng lưới quy luật chi phối các vấn đề như bảo hiểm xe hơi theo nhiều phương cách có thể đem lại 270 tỉ USD cho mậu dịch hàng năm.

Qua việc chuyển giao quyền kiểm soát an toàn về tiêu thụ, về môi trường, và về  lao động, từ các nhà nước dân chủ qua các tòa án trọng tài khép kín, chi phối bởi giới kinh-doanh, và theo  luận cứ của liên minh 170 nhóm các hội đoàn dân sự Âu châu, TTIP, cũng như đối tác Thái Bình Dương, sẽ đòi hỏi một phí tổn xã hội cao từ các xứ thành viên. Trong khi các giai tầng hành chánh phức tạp của Liên Hiệp Âu Châu và tính phức hợp trong quan hệ giữa các nhà nước có đủ chủ quyền tối thượng khiến việc hoàn tất các thương nghị trong vòng một năm khó thể đạt được, thỏa ước TTIP, thúc đẩy bởi sự quyết tâm duy nhất của Obama, đang dịch chuyển với tốc đô ánh sáng so với vòng đàm phán Doha chậm như  rùa của WTO [World Trade Organization], đang thương nghị không một kết quả trong năm thứ 12 hiện với không một dấu hiệu hoàn tất.

CÁC TAY CHƠI ĐỊA-CHÍNH TRỊ VĨ ĐẠI

Trong quyết chí theo đuổi đại chiến lược nầy, Obama rõ ràng đã tự chứng tỏ như một trong số ít lãnh đạo Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ, kể từ khi trỗi dậy như đại cường của thế giới trong năm 1898, với bản chất quân bình thiết yếu trong viễn kiến và tàn nhẫn, cần thiết cho trò chơi đế quốc áp đảo đặc biệt lớn lao nầy.

Hãy quên đi người đã được mọi người bầu chọn như bậc thầy ngoại giao, Henry Kissinger, vị thầy thiếu khả năng thích ứng nhưng không thiếu tàn nhẫn; người đã kéo dài cuộc chiến Việt Nam thêm bảy năm đẫm máu để che đậy thất bại ngoại giao của mình; người đã trao  Đông Timor cho Indonesia sau nhiều thập kỷ tắm máu mãi cho đến ngày độc lập không thể tránh; người đã đánh mất uy danh khả tín của Hoa Kỳ ở Mỹ Latin, qua việc thiết kế một chế độ độc tài quân sự tàn bạo ở Chile; và cũng là người đã xử lý sai lầm quan hệ với Moscow trong nhiều phương cách kéo dài Chiến Tranh Lạnh thêm 15 năm. Sự nghiệp của Kissinger, như chuyên gia luật quốc tế, Richard Falk, đã viết gần đây, đã được đánh dấu bởi “khả năng luôn sai lầm phi thường của ông ta trong mọi quyết định chính sách đối ngoại quan trọng bởi chính quyền Hoa Kỳ trong suốt nửa cuối của thế kỷ XX.”[7]

Một khi chúng ta đã xét đoán các lãnh đạo Hoa Kỳ khác theo tiêu chuẩn tính toán phí tổn và lợi điểm tương tự, chúng ta, cũng khá ngạc nhiên, chỉ còn lại ba tên tuổi địa-chính-trị lớn: Elihu Root, kiến trúc sư độc đáo thiết kế quá trình thành đạt vị trí đại cường toàn cầu của Hoa Kỳ; Zbigniew Brzezinski, cố vấn an ninh của Tổng Thống Carter, người đã làm tan vỡ Đế Quốc Xô Viết, và dọn đường cho Hoa Kỳ trở thành siêu cường duy nhất của thế giới; và Barack Obama, người đang bảo vệ địa vị nầy của Hoa Kỳ và đang lên kế hoạch đế quốc đáng ngạc nhiên về phương cách chế ngự đà đi lên của Trung Quốc. Trong mỗi trường hợp, thủ đoạn của cả ba luôn đủ mềm dẽo và tinh tế, đã giúp họ tránh được các nhà quan sát đương thời và các sử gia mai hậu.

Nhiều tổng thống Hoa Kỳ — như Theodore Roosevelt, Franklin D. Roosevelt, George H. W. Bush, và Bill Clinton — đã chứng tỏ là những nhà ngoại giao tầm cỡ, với nhiều kỷ năng thương thảo các thỏa ước hay thuyết phục các đồng minh theo mình. Nhưng điều đáng ngạc nhiên là rất ít lãnh đạo thế giới, Hoa Kỳ hay quốc gia nào khác, có đủ khả năng thấu triệt cả hai kích cỡ không gian và thời gian của uy quyền toàn cầu — có nghĩa, những nối kết giữa các hành động hiện tại và các kết quả thường xa xăm cũng như khả năng trực giác  nắm bắt các lực lượng văn hóa, kinh tế, và quân sự trong tổng hợp địa-chính-trị. Vận dụng được cả hai loại kỷ năng nầy cho phép nhìn thấy bên dưới sự hỗn độn của các biến cố hiện tại và thấu triệt những dòng chảy sâu ngầm của đổi thay lịch sử. Root và Brzezinski cả hai đều có khả năng nhào nặn hiện tại để thăng tiến quyền lợi lâu dài của Hoa Kỳ trong khi làm thay đổi, thường từ căn bản, cán cân quyền lực toàn cầu trong tương lai. Mặc dù ít được ghi nhận trong dòng thác chỉ trích chôn vùi các thành tựu trong văn phòng bầu dục, Obama hình như đang theo các bước đi của cả hai.

ELIHU ROOT, KIẾN TRÚC SƯ QUYỀN LỰC HOA KỲ

Mặc dù hiện nay đã bị quên lãng, Elihu Root là kiến trúc sư đã thực sự biến đổi Hoa Kỳ từ một quốc gia lục địa ốc đảo thành một tay chơi quan trọng trên sân khấu thế giới. Vào thời điểm Sir Halford Mackinder đang tưởng tượng mô hình mới để nghiên cứu quyền lực toàn cầu, Root đang xây dựng một hạ tầng cơ sở định chế trong quốc nội và ở hải ngoại để thực sự hành xử quyền lực đó.

Sau một sự nghiệp 30 năm-thành-công như một luật sư luật công ty đại diện các đại tư bản trấn lột giàu có nhất, các tổ hợp dễ mua chuộc nhất, và ngay cả William “Boss” Tweed hám lợi, Root đã dành hết cuộc đời còn lại để canh tân nhà nước Hoa Kỳ trong tư cách bộ trưởng chiến tranh, bộ trưởng ngoại giao, một thượng nghị sĩ, và cuối cùng một toàn quyền ngoại hạng. Root không những định hình phương thức chỉ đạo chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ cho thế kỷ sắp tới, mà còn giữ một vai trò lớn lao hơn, nhất là đối với một thành viên nội các của một cường quốc lúc đó còn ở ngoại vi, nhằm ảnh hưởng đến tính cách của một cộng đồng quốc tế đang trỗi dậy.

Trong tư cách một luật sư danh tiếng, Root đã hiểu rõ: sự bảo vệ — Hiến Pháp dành cho các quyền tự do cá nhân và quyền hạn của các tiểu bang — đã tạo ra một  guồng máy liên bang quan liêu yếu ớt, không thích hợp với việc phóng chiếu điều hợp uy quyền đế quốc của Hoa Kỳ ở hải ngoại. Để chuyển biến nhà nước chắp vá nầy và xã hội chia rẽ của nó  — đang còn bị chấn thương bởi Cuộc Nội Chiến — thành một cường quốc thế giới, Root đã dành 1/4 thế kỷ để quyết tâm theo đuổi ba mục tiêu chồng chéo: cấu tạo một chính quyền liên bang rời rạc thành một bộ máy hùng mạnh để bành trướng ra hải ngoại;  xây dựng một đồng thuận giữa các thành phần ưu tú của xứ sở cho một chính sách đối ngoại hiếu động như thế; và cấu tạo các hình thức quản trị toàn cầu mới sẵn sàng chấp nhận ảnh hưởng của Hoa Thịnh Đốn.

Trong tư cách bộ trưởng chiến tranh [1899-1904], Root đã cải cách cơ cấu xưa cổ của Quân Đội; cấu tạo bộ tổng tham mưu tập trung; thiết lập trường cao đẳng chiến tranh tân tiến; tăng cường và mở rộng huấn luyện chuyên nghiệp các sĩ quan. Qua sự biến đổi nầy, giới quân sự đã tiến xa khỏi sứ mệnh cổ truyền bảo vệ bờ biển và trở thành một lực lượng ngày một nhanh nhẹn để bành trướng ra hải ngoại — ở Trung Quốc, Philippines, Caribbean, Latin America, và, cuối cùng, Âu Châu. Với chú tâm vào sự thăng tiến của Hoa Kỳ, Root cũng che dấu các hành vi ác độc đi kèm nhiệm vụ bình định Philippines đặc biệt tàn nhẫn và phủ phàng.

Trong tư cách bộ trưởng ngoại giao [1907-1909], thượng nghị sĩ [1909-1915], và đặc phái viên ở Nga [1917], Root lúc đó đã lãnh đạo một nỗ lực ngoại giao bền lâu, lần đầu tiên, giúp Hoa Kỳ thực sự hiện diện trong cộng đồng các quốc gia. Để cài đặt Hoa Thịnh Đốn  — cho đến lúc đó vẫn còn ở ngoại vi của “chính-trị-thế-giới-vẫn-còn-tập-trung-vào-Âu-châu — vào trò chơi phóng chiếu quyền lực toàn cầu, Bộ Trưởng Ngoại Giao Root đã phát động một chuyến công du vô tiền khoáng hậu đến Mỹ Latin trong năm 1906, giành được sự hậu thuẩn của lục địa.

Với sự ủng hộ của 17 Cộng Hòa Latin trong số 44 quốc gia hiện diện, Hoa Thịnh Đốn đã giành được đủ ảnh hưởng địa-chính-trị tại Hội Nghị Hòa Bình The Hague Thứ Hai trong năm 1907, để kết thúc thỏa ước pháp lý lần đầu về luật lệ chiến tranh.

Để có trụ sở cho Tòa Trọng Tài Thường Trực, định chế quản lý toàn cầu họat động đầu tiên, ra đời từ các hội nghị hòa bình The Hague, bạn của Root, Andrew Carnegie, đã chi tiêu 1,5 triệu USD, một số tiền lớn vào thời đó, để xây dựng Dinh Hòa Bình ở The Hague trong năm 1913.

Một năm sau, trong tư cách chủ tịch Carnegie Endowment for International Peace [1910-1925], Root đã giúp thiết lập Hàn Lâm Viện Luật Quốc Tế The Hague, đặt trụ sớ ngay bên trong Peace Palace.

Cùng lúc, Root đã xây đắp một liên minh chặt chẽ với Anh Quốc qua việc cổ súy các thỏa ước giải quyết các tranh chấp lãnh thổ khuấy đục các quan hệ với đại cường ưu việt của thế giới trong phần lớn thế kỷ. Nỗ lực nầy đã giúp đem lại giải thưởng Nobel Hòa Bình cho Root trong năm 1912. Ngay cả trong hưu trí vào tuổi 75, Root vẫn phục vụ trong một ủy ban của Hội Quốc Liên [League of Nations] thiết lập Tòa Thường Trực Công Lý Thế Giới [Permanent Court of International Justice], thực hiện viễn kiến lâu năm cộng đồng thế giới như một Hội Đồng các quốc gia đầy đũ chủ quyền tối thượng theo pháp trị [rule of law].

Qua nhiều thập kỷ, Root đã thận trọng vun quén hậu thuẩn cho một chính sách đối ngoại quyết đoán trong giới thượng lưu miền Đông Hoa Kỳ. Như cao điểm của nỗ lực nầy,  năm 1918,  Root đã lãnh đạo một nhóm các tài chánh gia, các kỹ nghệ gia, và các luật sư chuyên về luật công ty trong việc thiết lập Hội Đồng Quan Hệ Đối Ngoại ở New York, sau đó đã sớm trở thành diễn đàn với nhiều ảnh hưởng nhất trong việc hình thành đồng thuận công cộng đối với chính sách đối ngoại mở rộng. Root cũng đã vun quén các chuyên gia hàn lâm trong các đại học hàng đầu khắp Hoa Kỳ, sử dụng khả năng chuyên nghiệp để định hình và hậu thuẫn các tư tưởng chính sách đối ngoại của chính ông.

Tóm lại, Root đã un đúc lại xã hội Hoa Kỳ để rèn luyện một mắt xích tiền bạc, ảnh hưởng, và tri thức, có thể làm nền tảng hậu thuẩn cho chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ trong thế kỷ tới.

ZBIGNIEW BRZEZINSKI, PHÁ HỦY CÁC ĐẾ QUỐC

Sau một thời kỳ dài giới lãnh đạo thế giới không có gì thay đổi, dưới nhiệm kỳ tổng thống  Jimmy Carter, chính sách đối ngoại đã được đặt dưới trách nhiệm một gương mặt được đánh giá thấp, Cố Vấn An Ninh Quốc Gia Zbigniew Brzezinski. Một quý tộc di cư từ Ba Lan, giáo sư quan hệ quốc tế, và một người tự học khi đến với địa-chính-trị, Brzezinski trên hết là một phụ tá trí thức của Sir Halford Mackinder.

Qua hành động và phân tích, Brzezinski đã biến ý niệm của Mackinder về Eurasia như Đại Đảo Thế Giới [the world island], và vùng bên trong nội địa [interior heartland] như “chốt”quyền lực toàn cầu, thành ý kiến của chính mình. Brzezinski đã chứng tỏ đặc biệt tinh thông khi áp dụng châm ngôn lừng danh của Sir Halford: “Ai ngự trị Đông Âu sẽ chỉ huy Vùng-Đất-trung-tâm; Ai ngự trị Vùng Đất-trung-tâm sẽ chỉ huy Đại Đảo Thế Giới; Ai ngự trị Đại Đảo Thê Giới sẽ chỉ huy thế giới.”[8]

Nắm giữ hoạt động bí mật CIA 100 triệu USD như mũi nhọn, Brzezinski đã lái Hồi giáo cực đoan từ Afghanistan vào vùng-đất-trung-tâm Trung Á của Xô Viết, lôi kéo Moscow vào cuộc chiến Afghanistan dài một thập kỷ, làm suy yếu  Nga đủ để giúp Đông Âu cuối cùng đã thoát khỏi đế quốc Xô Viết.

Với lối tính toán có thể không có gì lạnh lùng nhẫn tâm hơn, Brzezinski đã hiểu rõ và đã hợp lý hóa tình trạng cơ cực không thể tả và khổ đau của các nạn nhân, gieo rắc bởi chiến lược của ông như  cảnh quan đã bị tàn phá; hàng triệu nạn nhân đã phải rời bỏ làng mạc, mồ mã tổ tiên, và trở thành dân tỵ nạn; và vô số dân chúng Afghanistan đã phải thiệt mạng và thương tích.

Gạt bỏ các tai họa tàn phá lâu dài như “số tín đồ Hồi giáo bị khuấy động,” trong cách nhìn của ông, chẳng có gì thêm vào cánh đồi đầu lâu, so với tầm quan trọng trực tiếp tấn công vào vùng đất-trung-tâm Âu-Á để giải thoát Đông Âu, một nửa lục địa xa xôi, và làm tan vỡ đế quốc Xô Viết.

Và những kết quả đó quả thật đã đánh dấu Brzezinski như một tay chơi địa-chính-trị trong bối cảnh “realpolitik”tàn nhẫn. Chúng ta cũng không nên quên những khổ đau tương lai bởi “số người Hồi giáo bị khuấy động đó,” ngày nay gồm cả sự trỗi dậy của al-Qaeda, 11/9, và cuộc chiến Afghanistan 2.0, cũng như tình trạng rối loạn của vùng Trung Đông Nới Rộng do sự tăng trưởng của Hồi giáo cực đoan — những thành phần dấy loạn Brzezinski trước đây đã từng vun quén.

Trong năm 1998, sau khi hưu trí, Brzezinski một lần nữa đã áp dụng lý thuyết của Sir Halford, lần nầy trong một tác phẩm nhan đề The Grand Chessboard [Bàn Cờ Lớn], một luận thuyết địa-chính-trị về khả năng kéo dài quyền bá chủ của Hoa Kỳ. Mặc dù Hoa Thinh Đốn vẫn còn tắm gội trong hào quang của ngôi vị vĩ đại như siêu cường duy nhất của thế giới, ông ta cũng đã có thể tưởng tượng những tai họa của địa-chính-trị phương hại đến quy chế siêu cường duy nhất. Nếu lúc đó Hoa Kỳ như một khổng lồ đang ngăn chặn thế giới,  Âu-Á vẫn còn như “sân chơi quan trọng nhất địa cầu…với địa vị ưu thế trên toàn lục địa Âu-Á như một cơ sở trung tâm nổi trội toàn cầu.”

“Đại lục địa Âu-Á đó, Brzezinski đã nhận định, quả thật quá lớn, quá đông, văn hóa quá đa dạng, và bao gồm quá nhiều quốc gia đầy tham vọng trên bình diện lịch sử, đầy năng lượng trên bình diện chính trị, để có thể phục tùng mệnh lệnh ngay cả của siêu cường toàn cầu thành công nhất trên bình diện kinh tế, và nổi trội nhất trên bình  diện chính trị.” Hoa Thịnh Đốn, ông tiên đoán, có thể tiếp tục quyền thống trị hay chi phối suốt một nửa thế kỷ của chính mình trên “bàn cờ Âu-Á với hình thể  lạ thường — trải dài từ Lisbon đến Vladivostok,” chỉ kéo dài chừng nào có thể duy trì “địa vị vững chắc không bị thách thức trên phần ngoại vi Tây phương,” trong khi “không gian ở giữa” không trở nên “một chủ thể duy nhất tự khẳng định,”và phần cực Đông lục địa thế giới đã không tự thống nhất trong phương cách có thể đưa đến “sự xua đuổi Hoa Kỳ khỏi các căn cứ hải ngoại của mình.” Nếu bất cứ một trong số các điều kiện quyết định nầy thay đổi, Brzezinski đã cảnh cáo kiểu tiên đoán, “một chủ thể có tiềm năng cạnh tranh với Hoa Kỳ, tới một điểm nào đó, cũng có thể sẽ trỗi dậy.”[9]

BARACK OBAMA, NGƯỜI BẢO VỆ QUYỀN BÁ CHỦ TOÀN CẦU CỦA HOA KỲ

Chưa đến một thập kỷ sau, Trung Quốc đã trỗi dậy thách thức quyền kiểm soát Âu-Á của Hoa Kỳ và do đó đang đe dọa vị trí bá chủ vĩ đại toàn cầu của Hoa Thịnh Đốn. Trong khi phe quân sự của Hoa Kỳ đang sa lầy ở Trung Đông, Trung Quốc đang thầm lặng thống nhất “không gian phía giữa” của Âu-Á, cùng lúc chuẩn bị trung tính hóa các căn cứ quân sự hải ngoại của Hoa Kỳ.

Vào lúc Barack Obama vào Bạch Ốc trong năm 2009, thế giới đã chứng kiến những dấu hiệu đầu tiên của một thách thức địa-chính-trị nghiêm túc, loại thử thách chỉ tổng thống và các cố vấn thân cận hình như đã nhận diện.

Trong bài nói chuyện trước Nghị Viện Úc trong tháng 11-2011, Obama đã tuyên bố: “Chúng tôi không còn gì nghi ngờ: Bên trong Á châu-Thái Bình Dương trong thế kỷ XXI, Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ đang là một thành viên.” Obama giải thích:” Sau hai cuộc chiến dài lâu ở Iraq và Afghanistan tốn kém nhiều xương máu và tiền của đối với chúng tôi, Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ đang chuyển sự chú ý của chúng tôi đến tiềm năng rộng lớn của vùng Á châu -Thái Bình Dương,” vùng tăng trưởng nhanh nhất của thế giới — và là vùng chiếm hơn một nửa nền kinh tế toàn cầu.” Giàn trải đầu tiên 2.500 quân nhân Hoa Kỳ đến Úc của Obama đã có vẻ là số tiền cọc khiêm tốn về “một quyết định có chủ ý và mang tính chiến lược”để trở thành vị “tổng thống “Hòa bình” đầu tiên của Hoa Kỳ”, đã đem lại một số lớn chỉ trích và chế nhạo non nớt hấp tấp.[10]

Bốn năm sau, một bình luận gia CNN vẫn còn gọi “chốt chẳng đi đến đâu của Obama.” Ngay cả bình luận gia chính sách đối ngoại dạn dầy Fareed Zakaria cũng đã có thể đặt câu hỏi, vào đầu năm 2015: “Điều gì đã xảy ra cho chốt Á châu?” Trả lời câu hỏi của chính mình, Zakaria đã lập luận, tổng thống vẫn còn đang sa lầy ở Trung Đông và phần trung tâm của chốt đó, Đối Tác Xuyên Thái Bình Dương [TPP], hình như đang phải đối mặt với thất bại chắc chắn trước Quốc Hội.[11]

Trước sự ngạc nhiên của giới chỉ trích tổng thống, trong những tháng cuối của hai nhiệm kỳ, từ Iran đến Cuba, từ Burma đến Thái Bình Dương, Obama đã tự chứng tỏ như một chiến lược gia Hoa Kỳ có đủ khả năng tiềm ẩn đặt nền tảng cho một Hoa Kỳ tiếp tục giữ vai trò bá chủ hành tinh trong thế kỷ XXI. Trong 16 tháng cuối của hai nhiệm kỳ tổng thống, với chút ít can đảm, kiên trì, may mắn, với đợt sinh hoạt ngoại giao sôi động phút chót — đạt được thỏa ước hạt nhân với Iran để ngăn ngừa một xung đột Trung Đông tai họa khác, được Quốc Hội chuẩn y Đối Tác Xuyên Thái Bình Dương [TPP], và hoàn tất cuộc thương thảo Đối Tác Mậu Dịch và Đầu Tư Xuyên Đại Tây Dương [TTIP] — Obama có thể vừa mới thành công kéo dài đáng kể quyền bá chủ toàn cầu đang suy tàn của Hoa Kỳ.[12]

Tạm thời gạt qua một bên các chi tiết, hai quốc gia hùng cường nhất thế giới, Trung Quốc và Hoa Kỳ, hình như đã triển khai các chiến lược địa-chính-trị tương khắc để định hướng cuộc đấu tranh giành uy quyền toàn cầu. Liệu Bắc Kinh sẽ thành công trong bước tiến xa hơn hướng đến thống nhất Á châu, Phi châu, và Âu châu thành Đại Đảo Thế Giới hay Hoa Thịnh Đốn sẽ kiên trì với chiến lược của Obama chia cắt khối đại lục dọc theo các trục mậu dịch xuyên đại dương, chắc cũng phải đợi thêm một hay hai thập kỷ để trở nên rõ ràng hơn.

Chúng ta vẫn chưa thể nói liệu kết quả của trò chơi vĩ đại nầy sẽ được quyết định xuyên qua một cạnh tranh thương mãi hầu như vô hình hay một thảm kịch bạo động hơn,  không mấy khác giai đoạn chuyển tiếp đế quốc tương tự của lịch sử , cạnh tranh dai dẳng giữa “hệ thống lục địa” của Napoleon và chiến lược hàng hải của Vương Quốc Anh vào đầu thế kỷ XIX. Tuy nhiên, chúng ta đang khởi sự thấy các thông số tổng quát của một ganh đua địa-chính-trị mang tính thời đại có thể định hình thế giới trong nhiều thập kỷ sắp đến của thế kỷ XXI vẫn còn non trẻ hiện nay.

Nguyễn Trường

Irvine, California, U.S.A.

12-10-2015

[1] Since he took office in 2009, Obama has faced an unremitting chorus of criticism, left and right, domestic and foreign, dismissing him as hapless, even hopeless. “He’s a poor ignoramus; he should read and study a little to understand reality,” said Venezuela’s leftist president Hugo Chavez, just months after Obama’s inauguration. “I think he has projected a position of weakness and… a lack of leadership,” claimed Republican Senator John McCain in 2012. “After six years,” opined a commentator from the conservative Heritage Foundation last April, “he still displays a troubling misunderstanding of power and the leadership role the United States plays in the international system.” Even former Democratic President Jimmy Carter recently dismissed Obama’s foreign policy achievements as “minimal.”  Voicing the views of many Americans, Donald Trump derided his global vision this way: “We have a president who doesn’t have a clue.”

[2] “the most populated nations on the planet.”

[3] Eisenhower authorized a covert regime change operation to be engineered by the CIA and British intelligence

[4] In September 2013, spurning neoconservative calls for a military solution to the “Iranian problem,” Obama dramatically announced the first direct contact with that country’s leader since 1979. In this way, he launched two years of sustained diplomacy that culminated in an historic agreement halting Iran’s nuclear program. From a geopolitical perspective, this prospective entente, or at least truce, avoided the sort of military action yearned for by Republicans that would have mired Washington in yet another Middle Eastern war. It would also have voided any chance for what, in 2011, Secretary of State Clinton first termed “a pivot to new global realities.” She spoke as well of “our strategic turn to the Asia-Pacific,” a policy which, in a 2014 Beijing press conference, Obama would tout as “our pivot to Asia.”

[5] With its usual barbed insight, Beijing’s Global Times has quite accurately identified the real aim of Obama’s Africa diplomacy as “off-setting China’s growing influence and recovering past U.S. leverage.”

[6]Think of it in blunt terms as “the choice between maintaining the empire abroad and sustaining democracy at home.”

[7] Forget everyone’s nominee for master diplomat, Henry Kissinger, who was as inept as he was ruthless, extending the Vietnam War by seven bloody years to mask his diplomatic failure, turning East Timor over to Indonesia for decades of slaughter until its inevitable independence, cratering U.S. credibility in Latin America by installing a murderous military dictatorship in Chile, and mismanaging Moscow in ways that extended the Cold War by another 15 years. Kissinger’s career, as international law specialist Richard Falk wrote recently, has been marked by “his extraordinary capacity to be repeatedly wrong about almost every major foreign policy decision made by the U.S. government over the course of the last half-century.”

[8]“Who rules East Europe commands the Heartland; Who rules the Heartland commands the World-Island; Who rules the World-Island commands the world.”

[9] That Eurasian “megacontinent,” Brzezinski observed, “is just too large, too populous, culturally too varied, and composed of too many historically ambitious and politically energetic states to be compliant toward even the most economically successful and politically preeminent global power.” Washington, he predicted, could continue its half-century dominion over the “oddly shaped Eurasian chessboard — extending from Lisbon to Vladivostok” only as long as it could preserve its unchallenged “perch on the Western periphery,” while the vast “middle space” does not become “an assertive single entity,” and the Eastern end of the world continent did not unify itself in a way that might lead to “the expulsion of America from its offshore bases.” Should any of these critical conditions change, Brzezinski warned prophetically, “a potential rival to America might at some point arise.

[10]  In a speech to the Australian parliament in November 2011, Obama said: “Let there be no doubt: in the Asia-Pacific in the twenty-first century, the United States of America is all in.” After two long wars in Iraq and Afghanistan “that cost us dearly, in blood and treasure, “ he explained, “the United States is turning our attention to the vast potential of the Asia Pacific region,” which is “the world’s fastest-growing region — and home to more than half the global economy.” His initial deployment of just 2,500 U.S. troops to Australia seemed a slender down payment on his “deliberate and strategic decision” to become America’s first “Pacific president,” producing a great deal of premature criticism and derision.

[11] By the time Barack Obama entered the Oval Office in 2009, there were already the first signs of a serious geopolitical challenge that only the president and his closest advisers seemed to recognize. In a speech to the Australian parliament in November 2011, Obama said: “Let there be no doubt: in the Asia-Pacific in the twenty-first century, the United States of America is all in.” After two long wars in Iraq and Afghanistan “that cost us dearly, in blood and treasure, “ he explained, “the United States is turning our attention to the vast potential of the Asia Pacific region,” which is “the world’s fastest-growing region — and home to more than half the global economy.” His initial deployment of just 2,500 U.S. troops to Australia seemed a slender down payment on his “deliberate and strategic decision” to become America’s first “Pacific president,” producing a great deal of premature criticism and derision.

Four years later, one CNN commentator would still be calling this “Obama’s pivot to nowhere.” Even seasoned foreign policy commentator Fareed Zakaria would ask, in early 2015, “Whatever happened to the pivot to Asia?” Answering his own question, Zakaria argued that the president was still mired in the Middle East and the centerpiece of that pivot, the Trans-Pacific Partnership, seemed to be facing certain defeat in Congress.

[12] To the consternation of his critics, in the waning months of his presidency, from Iran to Cuba, from Burma to the Pacific Ocean, Obama has revealed himself as an American strategist potentially capable of laying the groundwork for the continued planetary dominion of the United States deep into the twenty-first century. In the last 16 months of his presidency, with a bit of grit and luck and a final diplomatic surge — concluding the nuclear treaty with Iran to prevent another debilitating Middle Eastern conflict, winning congressional approval of the Trans-Pacific Partnership, and completing negotiations for the Transatlantic Trade and Investment Partnership — Obama just might secure the U.S. a significant extension of its waning global hegemony.

Advertisements