NGOẠI GIAO BẰNG KHÔNG LỰC ĐÃ TRỞ THÀNH TRUYỀN THỐNG CỦA HOA KỲ

 

Trong tháng 4-2014, ESPN đã đăng tấm ảnh của một cặp đôi bất thường: Samantha Power, đại sứ Hoa Kỳ tại Liên Hiệp Quốc và nguyên cố vấn an ninh quốc gia và ngoại trưởng Henry Kissinger tại cuộc tranh tài mở màn Yankees-Red Sox. Cặp đôi rõ rệt đang tận hưởng không khí sảng khoái một ngày xuân bên nhau, như một dạng thức địa-chính-trị thế kỷ XXI Katherine Hepburn và Spencer Tracy. Tuy nhiên, họ đang giễu cợt không phải về tình ái, mà là về chết chóc tang tóc.

Như một nhà báo, Power đã được biết như một nhân vật bảo vệ nhân quyền, đoạt  Pulitzer Prize với tác phẩm “A Problem from Hell: America and the Age of Genocide” [Một Vấn Đề từ Địa Ngục: Hoa Kỳ và Kỷ Nguyên Diệt Chủng]. Sau Hội Đồng An Ninh Quốc Gia và trước khi đến Liên Hiệp Quốc, Samantha Power đã được xem như một “diều hâu tự do” nhiều uy lực trong kỷ nguyên Obama. Bà cũng là ngôi sao hàng đầu trong nhóm làm chính sách và trí thức luôn vững tin: ngoại giao Hoa Kỳ được chi phối không những bởi an ninh quốc gia và mục tiêu kinh tế mà cả các lý tưởng nhân quyền, đặc biệt là phát huy dân chủ và bảo vệ nhân quyền.

Từ lâu, Power luôn chủ trương, Hoa Kỳ tự đảm nhận trách nhiệm bảo vệ những thành phần dễ bị tổn thương nhất trên thế giới. Trong năm 2011, bà đã giữ vai trò chính thuyết phục Tổng Thống Obama gửi không lực Mỹ đến ngăn ngừa nhà độc tài Muammar Gaddafi tàn sát thường dân. Chiến dịch nầy đã đưa đến cái chết của Gaddafi, lật đổ chế độ của ông ta bằng bạo lực, và cuối cùng, đã đưa đến một nhà nước thất bại và một cứ địa ngày một lớn mạnh của ISIS và các nhóm khủng bố khác. Ngược lại, Kissinger được nhận chân như thuộc trường phái “chính trị duy thực”[political realism], chủ trương quyền lực Hoa Kỳ phải phụng sự quyền lợi của Hoa Kỳ, ngay cả khi có nghĩa phải hy sinh nhân quyền của các dân tộc khác.

Theo ESPN, Power đã đùa giỡn hỏi Kissinger phải chăng lòng trung tín hâm mộ của ông đối với đội Yankees “cũng nằm trong phối cảnh duy thực về thế giới.”[1] Power, một khán giả hâm mộ đội Red Sox, chỉ gần đây đã thất bại thuyết phục Liên Hiệp Quốc hậu thuẩn chiến dịch không tạc của Hoa Kỳ ở Syria; vì vậy, Kissinger không thể đề kháng đáp ứng với đùa giỡn của riêng mình. Ông ta trả lời: “bạn rất có thể cuối cùng cũng phải làm nhiều điều thực tế hơn.” Đó là phương cách Kissinger gợi ý Power sẽ từ bỏ Red Sox để theo Yankees. Nhưng Power lại đáp lễ, tự xem mình như người thứ ba, “nhân vật chủ trương hậu thuẩn cho nhân quyền đã trót yêu thương Red Sox, một kẻ bị chà đạp, phe không thể thắng World Series.”

“Bây giờ,” Kissinger trả lời, “chúng ta đều bị áp bức” — ám chỉ thành tích đáng buồn trong mùa trước. Trong suốt cuộc đời hoạt động, Kissinger đã là tác giả ba sáng kiến diệt chủng, Power đã ghi nhận trong tác phẩm của mình: Pol Pot’s ‘killing fields” ở Cambodia —  trong thực tế lẽ ra đã không bao giờ có thể xẩy ra nếu Kissinger không khởi động chiến dịch không tập bất hợp pháp kéo dài bốn năm rưởi trong xứ đó; cuộc tàn sát của Indonesia ở East Timor; và của Pakistan ở Bangladesh, cả hai đều do Kissinger thúc đẩy.

Bạn có thể nghĩ cả hai đều hiểu rõ các chính sách của Kissinger dưới thời hai Tổng Thống Richard Nixon và Gerald Ford và những điều ghê rợn do các chính sách nầy rất có thể đã phủ một bức màn ảm đạm trên câu chuyện của hai người, nhưng sự đùa giởn của họ vẫn khá hăng say. Power đã bình luận: “Nếu các cổ dộng viên của Yankee và Red Sox có thể đi sâu vào tâm bóng tối của trận đầu mùa, bất cứ điều gì cũng có thể xẩy ra.”

Hình như, bất cứ điều gì, ngoại trừ giải thoát xứ nầy khỏi các cuộc chiến không có dứt điểm.

Gần đây hơn, Barack Obama đã loan báo quân đội Mỹ có thể sẽ không sớm rút khỏi Afghanistan và cũng đã cam kết tiếp cuộc chiến chống Islamic State ở Iraq và Syria, kể cả gửi quân nhân đến hai xứ nầy. Thực vậy, tác phẩm mới của phóng viên báo New York Times, Charlie Savage –“Power Wars”, gợi ý đã có rất ít dị biệt đáng kể giữa chính quyền Bush và Obama trong địa hạt các chính sách an ninh quốc gia  hay các biện minh pháp lý được sử dụng để theo đuổi mục tiêu thay đổi chế độ trong vùng Trung Đông Nới Rộng.

Đã hẳn, không chỉ Kissinger hoàn toàn chịu trách nhiệm trong quá trình chuyển biến chính sách an ninh quốc gia thành một quái vật. An ninh quốc gia Hoa Kỳ đã thực sự ám ảnh nhiều chính quyền kế tiếp. Nhưng hình ảnh của Kissinger — nhất là vai trò hậu thuẩn các chiến dịch không tạc như lợi khí “ngoại giao” và trong quyết định quân sự hóa vùng Vịnh Ba Tư — đã tiếp diễn qua nhiều thập kỷ, soi sáng lộ trình đã đưa Hoa Kỳ vào tình trạng chiến tranh triền miên.

BẮT ĐẦU VỚI CAMBODIA…

Không bao lâu sau khi Richard Nixon chính thức đảm nhiệm chức vụ Tổng Thống trong tháng giêng 1969, cố vấn an ninh quốc gia Kisssinger đã yêu cầu Ngũ Giác Đài soạn thảo các biện pháp không tạc Đông Dương. Tổng Thống tiền nhiệm, Lyndon Baines Johnson, trước đó đã quyết định ngưng chiến dịch dội bom Bắc Việt với hy vọng thương thảo một cuộc ngưng bắn rộng lớn hơn. Kissinger và Nixon đã hồ hởi tái tục chiến dịch, một bước đầu khá khó khăn trước sức hậu thuẩn chính trị quốc nội đối với quyết định ngưng dội bom.

Lựa chọn tốt nhất kế tiếp: bắt đầu chiến dịch dội bom Cambodia để  tiêu diệt các tuyến tiếp liệu, các kho vũ khí và trang bị, các cơ sở đóng quân của phe địch người Mỹ tin hiện diện ở đó. Nixon và Kissinger cũng tin một chiến dịch tàn bạo như thế có thể buộc Hà Nội phải nhượng bộ tại bàn hội nghị. Ngày 24-2, Kissinger và Đại Tá Alexander Haig, họp với Đại Tá Không Quân Ray Sitton, một chuyên gia B-52, bắt đầu hoạch định “Menu”, một bí danh “thực đơn bi thảm” dành cho chiến dịch không tạc sắp tới.

Tưởng cũng cần nhắc lại Nixon đã đắc cử với lời hứa sẽ chấm dứt chiến tranh Việt Nam. Kissinger tin: xếp Menu vào loại “top secret” vẫn chưa đủ. Bí mật tuyệt đối và toàn bộ, nhất là đối với Quốc Hội, là điều thiết yếu. Kissinger không mảy may nghi ngờ Quốc Hội, với vai trò chủ yếu quyết định ngân sách thiết yếu cho các sứ mệnh quân sự, sẽ không bao giờ chấp thuận chiến dịch không tạc một quốc gia trung lập không lâm chiến với Hoa Kỳ.

Thay vào đó, Kissinger, Haig, và Sitton đã sáng chế một phương cách đánh lừa khéo léo. Căn cứ trên các khuyến cáo của Tướng Creighton Abrams, tư lệnh các cuộc hành quân ở Việt Nam, Sitton đã có thể liệt kê các mục tiêu ở Cambodia cần tấn công, trình lên Kissinger và Haig xin chấp thuận. Kế đó, Sitton có thể chuyển các tọa độ về Saigon và một người đưa thư  phân phối cho các trạm radar, nơi đây một sĩ quan vào phút chót sẽ chuyển hướng các phi cơ B-52, trên danh nghĩa có sứ mệnh dội bom ở Nam Việt Nam, đến các mục tiêu đã được lựa chọn ở Cambodia.

Sau đó, viên sĩ quan phụ trách thủ tiêu bất cứ họa đồ lộ trình nào, các bản in vi tính, các phúc trình radar, hay các thông điệp có thể tiết lộ các mục tiêu thực sự. Một lò đốt đặc biệt đã được thiết kế để thủ tiêu các hồ sơ, như sau nầy Abrams đã điều trần trước Quốc Hội. “Chúng tôi có lẽ đã hỏa thiêu suốt 12 giờ mỗi ngày.” Các phúc trình giả tạo sau các đợt không tạc lúc đó đã được soạn thảo chứng tỏ các cuộc không tập đã diễn ra trên không phận Nam Việt Nam như đã hoạch định.

Kissinger đã thực sự trực tiếp chỉ huy. Sitton đã nhớ rõ Kissinger đã bảo ông ta, “tấn công ngay đây trong khu vực nầy,” “hay bỏ bom ở đây trong khu vực kia.” Các phi vụ ném bom đã thực sự kích động cố vấn an ninh quốc gia. Cuộc tấn công đầu tiên đã diễn ra ngày 18-3-1969. Theo Bob Haldeman, tham mưu trưởng của Nixon đã ghi trong nhật ký: “K. thực sự rất kích động.” “Ông ta đã thực sự tươi vui khi bước vào [Văn Phòng Bầu Dục] với bản phúc trình.”

Trong thực tế, ông ta đã giám sát mọi khía cạnh của các cuộc không kích. Phóng viên Seymour Hersh về sau đã viết, “Khi các quân nhân trình lên một danh sách bỏ bom, Kissinger thường tái thiết kế các phi vụ, dời đổi từng tá phi cơ từ khu vực nầy qua khu vực khác, và thay đổi thời gian biểu các phi vụ bỏ bom… [Ông ta] hình như rất thích thú giữ vai trò thực thi phi vụ.” Niềm vui đã không chỉ giới hạn ở Cambodia. Theo hai phóng viên báo Washington Post, Bob Woodward và Carl Bernstein, khi chiến dịch bỏ bom Bắc Việt tái tục, Kissinger “đã tỏ ra hết sức hồ hởi khi quan sát “kích cỡ các hố bom.” Một phúc trình của Ngũ Giác Đài trong năm 1973 đã tiết lộ “Henry A. Kissinger đã dích thân chấp thuận từng vụ trong tổng số 3.875 phi vụ bỏ bom Cambodia trong hai năm 1969 và 1970” — đợt bỏ bom bí mật nhất — “cũng như các phương pháp giữ kín các đợt bỏ bom đối với báo chí.”

Nói chung, giữa các năm 1969 và 1973, Hoa Kỳ đã ném nửa triệu tấn bom riêng ở Cambodia, giết hại ít nhất cũng đến 100.000 thường dân. Và chúng ta cũng đừng quên Ai Lao cũng như Bắc và Nam Việt Nam. Đợt phi cơ oanh tạc nầy tiếp theo đợt khác. Sau cuộc oanh tạc thành phố cảng Hải Phòng của Bắc Việt trong tháng 4-1972, trong khi tìm cách thuyết phục Tổng Thống Nixon chiến lược đang hữu hiệu, Kissinger đã nói với Nixon: “Như Tổng Thống đang thấy, họ không thể thấy B-52, và các phi cơ nầy đã dội một triệu cân Anh bom. Tôi cá với Tổng Thống chúng ta đã có nhiều phi cơ ở đó trong một ngày hơn là số phi cơ trong một tháng dưới thời Johnson … Mỗi phi cơ có thể chở một lượng bom khoảng 10 lần lượng bom một phi cơ trong Đệ Nhị Thế Chiến.”

Tuy nhiên, sau nhiều tháng trôi qua, chiến dịch dội bom đã chẳng làm được gì để buộc Hà Nội đến bàn hội nghị. Về một phương diện khác, chiến dịch dội bom đã giúp  Kissinger khá nhiều trong cuộc ganh đua giữa các phòng sở nội bộ. Nguồn gốc uy quyền duy nhất của Kissinger là Nixon, người chủ trương dội bom. Vì vậy, Kissinger đã vồ vập vai trò của ông như “Nhân Vật Bỏ Bom Số Một” để chứng tỏ với các Cố Vấn Quân Sự cứng rắn bên cạnh Tổng Thống là mình là “nhân vật chủ chiến của các nhân vật chủ chiến” [the hawk of halks.]  Tuy vậy, cuối cùng, ngay cả Nixon cũng đã nhận thấy các chiến dịch bỏ bom là “một ngỏ cụt” [a dead end]. Thực vậy, Nixon đã viết cho Kissinger trên một phúc trình tối mật về hiệu quả của quyết định bỏ bom: “K. Chúng ta đã hoàn toàn kiểm soát không phận Ai Lao và Việt Nam trong 10 năm. Kết quả: Chẳng được gì.” [Đây là vào tháng 1-1972, ba tháng trước khi Kissinger quả quyết với Nixon “các phi vụ bỏ bom kế tiếp”(wave after wave of bombers) chắc chắn là câu trả lời, hay đã đạt mục đich.]

Suốt bốn năm rưỡi đó, sau khi giới quân sự Hoa Kỳ đã rãi hơn sáu triệu tấn bom ở Đông Nam Á, Kissinger đã tự chứng tỏ không phải là một chính trị gia thực tiễn tối cao, mà là chính trị gia lý tưởng tối thượng của hành tinh. Kissinger đã từ chối bỏ cuộc khi đối diện một chính sách mang ý nghĩa đem lại một thế giới ông tin ông phải sinh sống trong đó, một thế giới nơi ông có thể, với uy quyền vật chất của giới quân sự Hoa Kỳ, uốn nắn các quốc gia dân quê nghèo nàn như  Việt-Men-Lào theo ý muốn của chính ông — thay vì một thế giới ông ta đã phải sinh sống trong đó, nơi bom đạn như ông có thể vận dụng , ông đã không thể buộc Hà Nội phải quy phục. Như chính ông đã nói lúc đó: “Tôi từ chối tin rằng một cường quốc bé nhỏ hạng tư như Bắc Việt Nam mà không có một điểm gảy đổ.”[2]

Trong thực tế, chiến dịch bỏ bom hay không tạc đã có một tác động đáng ngạc nhiên: Chiến dịch đã bất-ổn-hóa Cambodia, đưa đến cuộc đảo chánh 1970; biến cố nầy, đến lượt, đã đem lại cuộc xâm lăng của Hoa Kỳ năm 1970, chỉ mở rộng cơ sở xã hội của phong trào dấy loạn ngày một lớn mạnh ở nông thôn, đưa đến việc leo thang các chiến dịch bỏ bom lan tràn hầu như  khắp Cambodia, gây điêu tàn đổ vỡ cho xứ sở vốn đã nghèo nàn, và đã tạo thêm điều kiện lên nắm quyền cho “Khmer Đỏ diệt chủng”.

TIẾP ĐẾN LÀ CHIẾN TRANH VÙNG VỊNH I…

Sau khi chuẩn y, cho phép , hoặc hoạch định nhiều cuộc xâm lăng — Indonesia ở Đông Timor; Pakistan ở Bangladesh; Hoa Kỳ ở Việt-Mên-Lào; và South Africa ở Angola — Henry Kissinger đã chọn lập trường hợp lý duy nhất vào đầu tháng 8-1990, khi Saddam Hussein gửi quân đội Iraq vào Kuwait: Kissinger lên án hành động nầy.

Trong cương vị cố vấn an ninh quốc gia của tổng thống, Kissinger đã hăng say cổ vũ các tham vọng cấp vùng của Baghdad.

Như một chuyên gia tư vấn và  học giả, Kissinger đã khuyến cáo ý tưởng Iraq của Saddam nên được sử dụng như một đối trọng đối với Iran cách mạng.

Bây giờ, Kissinger chỉ biết những gì cần làm: sáp nhập Kuwait phải được lật ngược.

Tổng Thống George H.W. Bush kế đó đã phát động cuộc hành quân Operation Desert Shield, gửi một số quân lớn đến Saudi Arabia. Nhưng liền sau đó, câu hỏi được đặt ra: chính xác, họ đang muốn làm gì? Chế ngự  Iraq? Tấn công và giải phóng Kuwait? Thẳng tiến đến Baghdad và hạ bệ Saddam?

Các cố vấn về chính sách đối ngoại hay các nhà phân tích thiếu hẳn đồng thuận. Các thành phần bảo thũ tên tuổi hàng đầu trong Chiến Tranh Lạnh, thiếu nhất trí. Nguyên đại sứ bên cạnh Liên Hiệp Quốc Jeane Kirkpatrick, chẳng hạn, lúc đó chống đối mọi hành động chống Iraq. Bà không tin Hoa hịnh Đốn có “quyền lợi đặc biệt trong Vùng Vịnh” một khi Liên Bang Xô Viết đã ra đi. Các thành phần bảo thũ khác nêu rõ, sau Chiến Tranh Lạnh, chẳng còn gì khác biệt đáng kể giữa các đảng viên Baathists hay các lãnh đạo Hồi Giáo địa phương khai thác dầu ở Kuwait, chừng nào sản xuất dầu lửa vẫn tiếp tục.

Kissinger giữ lập trường chống đối những ai ông ta gọi là “các thành phần theo chủ nghĩa cô lập mới” [new isolationists]. Ông loan báo ngay trong câu đầu cột báo công đoàn được phổ biến rộng rãi, những gì Bush làm kế tiếp ở Kuwait sẽ đem lại thành công hay thất bại trong nhiệm kỳ tổng thống của chính ông. Bất cứ điều gì ngoài việc giải phóng Kuwait sẽ biến hành động phô trương lực lượng ở Saudi Arabia thành một “thảm họa”.

Kissinger chế nhạo các bạn tân bảo thũ do dự phát động thánh chiến trong Vùng Vịnh với những từ ngữ Chiến Tranh Lạnh cay chua: khuyến cáo của những thành phần nầy không mấy khác “từ bỏ trách nhiệm” [abdication] của chính mình. Ông nhấn mạnh, sẽ có nhiều hậu quả tai họa nếu thiếu đề kháng. Trong thực tế, Kissinger có thể là người đầu tiên so sánh Saddam Hussein với Hitler. Trong các bình luận, các tuyên bố trước truyền hình, và điều trần trước Quốc Hội, Kissinger đã cực lực lập luận phải can thiệp, kể cả “hủy diệt hay tàn phá chính xác và tiệm tiến các tích sản quân sự của Iraq và lật đổ lãnh đạo Iraq. “Hoa Kỳ,” ông nhấn mạnh, “đã vượt quá Rubicon” hay đã nhúng chàm và không thể lùi bước.[3]

Một lần nữa, Kissinger là con người của thời cuộc [man of the moment]. Nhưng bằng cách nào các ước vọng đã dịch chuyển kể từ 1970!  Chẳng bao lâu sau, khi Tổng Thống George H.W. Bush phát động các đợt không kích vào ngày 17-1-1991, các cuộc tấn công đã công khai diễn ra trước mắt đại chúng, cho mọi người chứng kiến. Không một bức màn bí mật hay các lò đốt bí mật, không một tài liệu phải tiêu hủy, hay các phúc trình phi vụ  giả tạo. Sau bốn tháng trường công khai tranh luận giữa các chính trị gia và các học giả, “các bom thông minh” chói sáng trên bầu trời Baghdad và Kuwait City trước các máy quay phim điện ảnh. Các trang thiết bị giúp thấy rõ trong đêm tối [night-vision equipment], truyền thông trực tiếp qua vệ tinh, và các nguyên tư lệnh Hoa Kỳ sẵn sàng diễn giải chiến tranh một cách trực tiếp theo kiểu các phóng viên thể thao. Ngay trong đêm đầu cuộc tấn công, theo lời của CBS News anchor “Dan Rather”: “Trong ngôn từ trang-thể-thao, đây…đây không phải một bô môn thể thao. Đây là chiến tranh. Nhưng cho đến nay, đây là một cơn điên bùng nổ.”[4]

Và Kissinger đích thực đã xuất đầu lộ diện khắp nơi — ABC, NBC, CBS, PBS, trên truyền thanh, trên báo chí –và  hùng hồn bình luân và phát biểu cao kiến. Ông đã nói với Dan Rather ngay trong đêm hôm đó: “Tôi nghĩ mọi chuyện đều đã diễn tiến tốt đẹp.”[5]

Đây là một công diễn kỹ thuật “toàn năng rõ ràng” [omnipotence], đến độ Tổng Thống Bush đã giành được loại hậu thuẩn của quần chúng mà Kissinger và Nixon chưa bao giờ có thể mơ tưởng. Cùng với khả năng tường thuật trực tiếp, còn có cả phần thưởng tức thì, xác nhận Tổng Thống Bush đã có được hậu thuẩn của công chúng. Ngày 18-1, một ngày sau cuộc tấn công xâm lăng, CBS đã loan báo: một thăm dò công luận mới “cho thấy hậu thuẩn cực kỳ mạnh mẽ dành cho cuộc tấn công Vùng Vịnh của Bush.”  Cùng lúc, T T Bush cũng đã tuyên bố trong chiến thắng: “Cám ơn Thượng Đế, chúng ta đã dứt khoát đạp đổ hội chứng Việt Nam.”[6]

Quân đội của Saddam Hussein đã bị đánh đuổi ra khỏi Kuwait, và trong phút chốc, kết quả hình như đã minh chứng luận lý bên sau chiến dịch bí mật không tạc Cambodia của Kissinger và Nixon: Hoa Kỳ nên tự do sử dụng mọi sức mạnh quân sự cần thiết để đem lại kết quả chính trị tìm kiếm. Hình như thế giới, nơi Kissinger từ lâu tin tưởng ông  có quyền được sinh sống, cuối cùng cũng đang trở thành hiện thực.

HƯỚNG ĐẾN 11/9

Tuy vậy, Saddam Hussein vẫn còn nắm quyền ở Baghdad, và đang sáng tạo một vấn đề cực kỳ lớn lao cho người thừa kế của Bush — Bill Clinton. Các biện pháp chế tài ngày một tốn kém, thỉnh thoảng được đánh dấu bởi vài tấn công với tên lửa đạn đạo vào Baghdad, cũng chỉ làm gia tăng cường độ khủng hoảng. Trẻ con bị thiếu ăn; nhiều thường dân thương vong vì tên lửa; chế độ Baathist vẫn không tỏ dấu hiệu đổi thay.

Kissinger theo dõi tình hình với thích thú vô tư. Một cách nào đó, Clinton có vẻ đang theo gót Kissinger: dội bom một xứ không lâm chiến với Hoa Kỳ và cũng không được Quốc Hội cho phép, một phần để xoa dịu cánh hữu chủ chiến.

Trong năm 1998, tại một hội nghị kỷ niệm lần thứ 25 các thỏa ước chấm dứt chiến tranh Việt Nam, Kissinger lại đưa ra ý kiến về Iraq. Ông ta cho biết, “vấn đề thực sự ở đây là ý chí.  Bạn cần tỏ rõ ý muốn “đánh gảy lưng” một người nào đó bạn đang từ chối thương thảo, tương tự như ông ta và Nixon đã làm ở Đông Nam Á. “Dù chúng ta đúng hay sai,” Kissinger nói thêm, “cũng chỉ là chuyện thực sự thứ yếu.”[7]

Điều nầy nên được xem như một lời phát biểu đáng lưu ý trong lịch sử chủ nghĩa “thực dụng chính trị,” [political realism].

Do đó, chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi, sau sự kiện 11/9, Kissinger đã là người hậu thuẩn sớm sủa một giải pháp quân sự táo bạo. Chẳng hạn, ngày 9-8-2002, trong trang bình luận báo công đoàn, Kissinger đã vồ vập chính sách thay đổi chế độ ở Iraq, xác nhận chính sách mang tính “cách mạng”. Kissinger viết, “ý niệm ngăn ngừa chính đáng trái ngược với luật pháp quốc tế ngày nay,” tuy nhiên vẫn cần thiết bởi lẽ sự mới mẻ của “đe dọa khủng bố”, một đe dọa vượt ra ngoài khung cảnh định chế nhà-nước-quốc-gia.”[8]

Tuy nhiên, trong thực tế một lý do thường không nói ra khác đã làm cho mọi vấn đề liên can đến Iraq trở nên rối rắm: “Để chứng minh một thách thức khủng bố hay một cuộc tấn công mang tính hệ thống đối với trật tự thế giới cũng mang lại những hậu quả tai họa cho phạm nhân cũng như các người hậu thuẩn.” Theo phương cách thực sự kiểu Kissinger, muốn được lòng các thành phần quân sự hiếu chiến nhất trong một chính quyền Hoa Kỳ, chính trị gia “thực tiển” chủ yếu, nói một cách khác, phải hoàn toàn sẵn sàng làm ngơ trước thực tế các thành phần Baathists thế tục của Baghdad luôn là kẻ thù của các chiến binh Hồi Giáo, và thực tế Iraq không tham gia hay trợ giúp các phạm nhân trong vụ 11/9. Xét cho cùng, “đúng hay sai là thực sự thứ yếu so với mục tiêu chính: luôn sẵn sàng làm một điều gì mang tính quyết định, nhất là sử dụng không lực để “đánh gảy lưng”… bất cứ ai.

Chưa đến ba tuần lễ sau, Phó Tổng Thống Dick Cheney, trong khi trình bày kế sách xâm lăng Iraq trước hội nghị toàn quốc Cựu Quân Nhân Các Cuộc Chiến Hải Ngoại, đã trực tiếp viện dẫn lời bình luận của Kissinger. Cheney nói: “Như nguyên Ngoại Trưởng Kissinger gần đây đã phát biểu, hiện có “một nhu cầu hành động ngăn ngừa khẩn thiết”[9]

Năm 2005, sau khi tiết lộ tin tức tình báo giả mạo và vận dụng báo chí nhằm trung tính hóa sự chống đối kế hoạch xâm lăng Iraq, tiếp theo sau các tai họa Fallujah và Abu Ghraib, sau khi đã rõ ràng quốc gia thực sự hưởng lợi từ kế hoạch chiếm đóng là Iran cách mạng, Michael Gerson, người viết diễn văn cho George W. Bush, đã tìm gặp Kissinger ở New York để vấn kế. Hậu thuẩn của quần chúng đối với chiến tranh lúc đó đã sụp đổ và các biện minh nhu cầu chiến tranh của Bush ngày một lan rộng. Trong diễn văn bắt đầu nhiệm kỳ hai hồi đầu năm trước đó, Bush đã loan báo, “trách nhiệm của Hoa Kỳ là loại trừ ma quỹ khỏi thế giới.”[10]

Gerson, người giúp viết diễn văn, đã tham khảo Kissinger. Kissinger nói, “Lúc đầu tôi rất kinh ngạc”, nhưng rồi tôi đã cảm thông vì các lý do công cụ. Như Bob Woodward kể lại trong tác phẩm “State of Denial”: “Sau khi nghĩ lại, bây giờ tôi tin bài diễn văn nhằm một mục đích và là một động thái hết sức khôn khéo, lồng cuộc chiến chống khủng bố và chính sách đối ngoại tổng thể trong khuôn khổ các giá trị Hoa Kỳ. Điều nầy có thể giúp duy trì một chiến dịch dài lâu.”[11]

Tại cuộc họp mặt, Kissinger đã trao cho Gerson một “memo” nổi tiếng viết gửi Nixon trong năm 1969 và yêu cầu Gerson chuyển đến Bush. Kissinger cảnh cáo: “Triệt thoái quân đội Mỹ sẽ trở thành đậu-phộng-rang-muối đối với công chúng Mỹ, càng nhiều binh sĩ hồi hương, đòi hỏi triệt thoái càng nhiều. Đừng để bị kẹt trong cái bẩy đó, Kissinger nói với Gerson, vì lẽ một khi bắt đầu triệt thoái, giữ vững tinh thần những quân nhân ở lại phía sau ngày một khó khăn hơn nhiều, đó là chưa nói đến các bà mẹ của quân nhân.”[12]

Kissinger  lúc đó đang nhớ  lại Việt Nam, và nhắc nhở Gerson các khích lệ đưa ra trong quá trình thương thuyết phải được hỗ trợ bởi các đe dọa khả tín mang bản chất không- kiềm-chế. Như một ví dụ, Kissinger nhắc lại một trong số nhiều tối hậu thư quan trọng ông gửi đến người Bắc Việt, cảnh cáo “những hậu quả nghiêm trọng” nếu họ không đáp lại với các nhượng bộ cần thiết giúp Hoa Kỳ triệt thoái khỏi Việt Nam “trong danh dự.” Người Bắc Việt vẫn luôn từ chối.

“Tôi đã không có đủ uy quyền” là phương cách Kissinger tóm tắt kinh nghiệm của ông hơn ba thập kỷ sau.

LIỆU VÒNG LẨN QUẨN CÓ THỂ ĐƯỢC PHÁ VỠ?

Khi nói đến chủ nghĩa quân sự của Hoa Kỳ, túi khôn quy ước đã đặt Samantha Power duy lý và Kissinger duy thực vào hai cực đối lập của quang phổ. Túi khôn quy ước là sai lầm, như Kissinger đã chứng tỏ. Trong năm vừa qua, trong khi cổ súy tác phẩm “World Order”, Kissinger đã trả lời các câu hỏi về các chính sách gây tranh cãi của chính ông bằng cách đơn cử Obama. Kissinger nói, không có một dị biệt nào giữa những gì ông làm với B-52 ở Cambodia và những gì Obama đã làm với phi cơ không người lái ở Pakistan, Somalia, và Yemen. Khi được hỏi về vai trò của ông trong việc lật đổ Salvador Allende, tổng thống đắc cử một cách dân chủ ở Chile năm 1973, Kissinger nhấn mạnh các hành động của ông bây giờ nhìn lại đã được biện minh bởi những gì Obama đã làm ở Libya và đã muốn làm ở Syria.

Đã hẳn, lời tự biện hộ của Kissinger một phần ngốc nghếch, nhất là sự quyết đoán phi lý của ông: số thường dân thương vong do nửa triệu tấn bom ném xuống Cambodia ít hơn bởi các phi cơ tự động với tên lửa Hellfire của Obama. [Con số ước lượng khả tín: số thường dân thương vong ở Cambodia trên 100.000; bởi drones khoảng 1.000 tử vong dân sự.]

Tuy nhiên, Kissinger đã nói đúng: các luận cứ chính trị của ông trong cuối thập kỷ 1960 để biện minh các cuộc chiến che dấu và bất hợp pháp ở Cambodia và Ai Lao, lúc đó, đã được xem quá xa so với tư duy dòng chính, hiện nay là một bộ phận rất phổ thông và công khai trong quá trình làm chính sách của Hoa Kỳ. Thực tế nầy đặc biệt trung thực trong ý tưởng Hoa Kỳ có quyền vi phạm chủ quyền của một quốc gia trung lập để hủy diệt “các cơ sở trú ẩn an toàn” của phe địch. “Nếu bạn đe dọa Hoa Kỳ, bạn sẽ không tìm được nơi trú ẩn an toàn bất cứ ở đâu,” Obama đã tuyên bố. Lời tuyên bố của Obama đã đem lại một miễn-xá-hồi-tố cho Kissinger.

Hiện nay, lúc đó, là một biểu hiện hoàn hảo của vòng lẫn quẩn không gảy đổ của chủ nghĩa quân sự của Hoa Kỳ. Kissinger đã đơn cử các cuộc chiến mở rộng không dứt điểm hiện nay để biện minh cho ngoại giao bằng không lực ở Cambodia và  những nơi khác của chính ông cách đây gần nửa thế kỷ. Nhưng những gì Kissinger làm hồi đó đã cấu tạo các điều kiện cho các cuộc chiến không dứt điểm hiện nay — cả những cuộc chiến khởi động bởi phái Tân Bảo Thủ của Bush cũng như các cuộc chiến khởi động bởi các phe tự do chủ chiến như Samantha Power. Và vòng lẫn quẩn cứ thế tiếp tục ở Hoa Thịnh Đốn.

 

Nguyễn Trường

Irvine, California, U.S.A.

3-12-2015

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

[1] …”in keeping with a realist’s perspective on the world.”

[2] During those four-and a half years when the U.S. military dropped more than 6,000,000 tons of bombs on Southeast Asia, Kissinger revealed himself to be not a supreme political realist, but the planet’s supreme idealist.  He refused to quit when it came to a policy meant to bring about a world he believed he ought to live in, one where he could, by the force of the material power of the U.S. military, bend poor peasant countries like Cambodia, Laos, and North Vietnam to his will — as opposed to the one he did live in, where bomb as he might he couldn’t force Hanoi to submit. As he put it at the time, “I refuse to believe that a little fourth-rate power like North Vietnam does not have a breaking point.”

[3] Baiting fellow conservatives reluctant to launch a crusade in the Gulf, he insisted, in Cold War-ish terms that couldn’t fail to bite, that their advice was nothing short of “abdication.” There were, he insisted, “consequences” to one’s “failure to resist.” He may, in fact, have been the first person to compare Saddam Hussein to Hitler. In opinion pieces, TV appearances, and testimony before Congress, Kissinger forcefully argued for intervention,including the “surgical and progressive destruction of Iraq’s military assets” and the removal of the Iraqi leader from power. “America,” he insisted, “has crossed its Rubicon” and there was no turning back.

[4] “In sports-page language,” said CBS News anchor Dan Rather on the first night of the attack, “this… it’s not a sport. It’s war. But so far, it’s a blowout.”

[5] “I think it’s gone well,”

[6] With instant replay came instant gratification, confirmation that the president had the public’s backing. On January 18th, only a day into the assault, CBS announced that a new poll “indicates extremely strong support for Mr. Bush’s Gulf offensive.”  “By God,” Bush said in triumph, “we’ve kicked the Vietnam syndrome once and for all.”

 

[7] In 1998, at a conference commemorating the 25th anniversary of the accords that ended the Vietnam War, Kissinger expressed his opinion on Iraq. The real “problem,” he said, is will. You need to be willing to “break the back” of somebody you refuse to negotiate with, just as he and Nixon had done in Southeast Asia. “Whether we got it right or not,” Kissinger added, “is really secondary.”

[8] On August 9, 2002, for instance, he endorsed a policy of regime change in Iraq in his syndicated column, acknowledging it as “revolutionary.” “The notion of justified pre-emption,” he wrote, “runs counter to modern international law,” but was nonetheless necessary because of the novelty of the “terrorist threat,” which “transcends the nation-state.”

[9] “As former Secretary of State Kissinger recently stated,” said Cheney, there is “an imperative for pre-emptive action.”

[10] In 2005, after the revelations about the cooking of intelligence and the manipulation of the press to neutralize opposition to the invasion of Iraq, after Fallujah and Abu Ghraib, after it became clear that the real beneficiary of the occupation would be revolutionary Iran, Michael Gerson, George W. Bush’s speechwriter, paid a visit to Kissinger in New York. Public support for the war was by then plummeting and Bush’s justifications for waging it expanding. America’s “responsibility,” he had announced earlier that year in his second inaugural address, was to “rid the world of evil.”

[11] Gerson, who had helped write that speech, asked Kissinger what he thought of it. “At first I was appalled,” Kissinger said, but then he came to appreciate it for instrumental reasons. “On reflection,” as Bob Woodward recounted in his book State of Denial, he “now believed the speech served a purpose and was a very smart move, setting the war on terror and overall U.S. foreign policy in the context of American values. That would help sustain a long campaign.”

[12] At that meeting, Kissinger gave Gerson a copy of an infamous memo he had written Nixon in 1969 and asked him to pass it along to Bush. “Withdrawal of U.S. troops will become like salted peanuts to the American public,” he had warned, “the more U.S. troops come home, the more will be demanded.” Don’t get caught in that trap, Kissinger told Gerson, for once withdrawals start, it will become “harder and harder to maintain the morale of those who remain, not to speak of their mothers.”

Advertisements