ELIOT A. COHEN, ĐỆ TỨ THẾ CHIẾN HAY LỜI MỜI GỌI TỰ TỬ TẬP THỂ

 

Giả thiết là phe diều hâu thắng thế và Hoa Kỳ sẽ làm bất cứ điều gì cần thiết, nhất là về quân sự, để đối đầu và hủy diệt ISIS. Thế rồi những gì sẽ xẩy ra?

Câu trả lời đòi hỏi phải lưu tâm nghiêm chỉnh đến các hậu quả của quyết đinh can thiệp gần đây của Hoa Kỳ trong Vùng Trung Đông Nới Rộng.

Năm 1991, khi Tổng Thống George H. W. Bush đánh bật quân đội Iraq ra khỏi Kuwait, người Mỹ vui mừng, cả tin họ đã ghi được một thắng lợi quyết định. Một thập kỷ sau, Bush [con] hình như đã thành công hơn cả Bush [cha] qua thành tích lật đổ Taliban ở Afghanistan và chóng vánh thanh toán ngay cả Saddam Hussein ở Iraq — cả hai xứ đã được giải phóng trong một thời gian ngắn ngũi hơn cả thời gian lựa chọn một tổng thống Hoa Kỳ.

Kế đó, một thập kỷ khác đã trôi qua, Barack Obama cũng vẫn theo đuổi chiến lược giải phóng, lật đổ lãnh tụ độc tài Muammar Gaddafi của Libya trong vụ can thiệp với kết quả sạch sẻ gọn gàng bởi không quân. Và ngoại trưởng Hillary Clinton đã đưa ra nhận định đáng nhớ: “Chúng tôi đến, chúng tôi thấy, ông ta đã chết.”[1] Và câu chuyện chấm dứt.

Trong thực tế, những biến cố sau đó trong cả hai xứ rõ ràng đã phủ nhận những lời tuyên bố toàn thắng huyênh hoang trước đây. Các hậu quả và rối reng bất ngờ ngày  một đầy dẫy. Giải phóng đã trở thành khúc dạo đầu dẫn đến bạo lực và biến động dài lâu.

Thực vậy, sự hiện diện của Nhà Nước Hồi Giáo [ISIS] ngày nay, tự nó đã là bản án dứt khoát đối với các cuộc chiến do chính hai tổng thống Bush Sr. và Bush Jr. chủ xướng, mỗi cuộc chiến đã được một tổng thống Dân chủ thừa kế khích lệ. Một sự cộng tác trong thực tế giữa bốn chính quyền kế tiếp đã xô đẩy Iraq vào tình thế hiện nay — một nhà nước bất bình thường không còn đủ khả năng kiểm soát biên giới hay lãnh thổ, trong cùng lúc, vận hành như một đá nam châm thu hút và gây cảm hứng cho các phong trào khủng bố.

Hoa Kỳ hiện phải gánh chịu một trách nhiệm tinh thần hết sức sâu sắc vì đã tạo ra tình trạng rối bời ở đó. Nếu không phải do quyết định của người Mỹ xâm lăng và chiếm đóng bừa bãi một quốc gia, dù mang tội gì đi nữa, vẫn không dính dáng gì đến sự kiện 11/9, Islamic State đã không thể hiện hữu như ngày nay. Theo đúng “quy luật Nhà Kho Đồ Gốm” nổi tiếng của nguyên Ngoại Trưởng Colin Powell, do hành động “nghiền nát” Iraq một thập kỷ trước đây, người Mỹ ngày nay khó thể chối bỏ trách nhiệm đã sáng tạo ra ISIS.

Sự kiện Hoa Kỳ đang sở hữu đủ quyền lực quân sự để thanh toán nhanh chóng”caliphate” nói trên cũng  là trường hợp đang diễn tiến. Thực vậy, trong cả hai xứ Syria và Iraq, Islamic State [IS] đã chứng tỏ khả năng chiếm giữ nhiều vùng sa mạc rộng lớn cũng như vài trung tâm đông dân. Tuy nhiên, IS đã  thành đạt các thành công nầy chỉ đối với các lực lượng địa phương thiếu động lực, thiếu điều hợp, thiếu cả trang bị và huấn luyện.

Về phương diện nầy, biên tập viên hiếu chiến của Weekly Standard, William Kristol, đã đúng khi gợi ý, một số quân Mỹ khoảng 50.000, với vũ khí đầy đủ và được không quân yểm trợ, có thể nghiền nát ISIS trong bất cứ  đụng độ tay đôi nào. Giải phóng các cứ điểm ISIS khác nhau như Fallujah và Mosul ở Iraq và Palmyra và Raqqa [thủ đô của ISIS], ở Syria, chắc chắn sẽ sớm diễn ra.

Tiếp theo sau các cuộc tấn công gần đây ở Paris, tâm thức người Mỹ lúc một hướng về giải pháp leo thang. Hầu như mọi người có trách nhiệm  — có lẽ ngoại trừ một phần nào đó chủ nhân Văn Phòng Bầu Dục hiện nay —  đều muốn tăng cường chiến dịch quân sự chống lại ISIS. Và tại sao không? Chẳng có gì phải ái ngại? Theo lời của Kristol, “Tôi không tin có các tác động phụ không tiên liệu nào xấu xa ở đó.”[2]

Viễn tượng khá quyến rũ. Đối diện với một cuộc tấn công dài lâu bởi lực lượng quân sự lớn nhất thế giới, ISIS không điên rồ gì [và vì vậy khó thể] lựa chọn đương đầu đến cùng như chiến trận Alamo. Hoan hô! Chúng ta thắng. Họ [ISIS] thua. Sứ mệnh hoàn tất.

Quả thật, nhận xét trên đây nhắc lại các phản ứng lạc quan sớm sủa đối với Operations Desert Storm trong năm 1991, Enduring Freedom năm 2001, Iraqi Freedom năm 2003, và Odyssey Dawn, cuộc can thiệp ở Libya năm 2011. Đã nhiều lần các tác động phụ không được tiên liệu của hành động quân sự của Hoa Kỳ quả thật đã chứng tỏ rất xấu xa. Ở Kabul, Baghdad, hay Tripoli, tinh thần “Alamo” đã sụp đổ, nhưng kẻ thù  phân tán đã tái sáng tạo và xung đột vẫn tiếp diễn. Các lời quyết đoán “lần nầy mọi việc chắc chắn sẽ khác,” do Kristol đưa ra, cần được đón nhận với thái độ nghi ngờ và thận trọng.

VỒ VẬP CHIẾN TRANH MANG TÍNH THẾ HỆ

Tại sao cho đến nay vẫn luôn có khác biệt giữa kết quả cảm nhận và kết quả thực tế? Tại sao các thành công trên chiến địa lại đưa đến bạo lực và loạn lạc? Trước khi  nghe theo khuyến cáo của Kristol, người Mỹ phải nên suy ngẫm nghiêm chỉnh các vấn đề vừa liệt kê.

Sau đây là nhắc nhỡ của giáo sư Eliot A. Cohen. Thực vậy, ngay sau biến cố 11/9, Cohen, một trong số các nhà tư tưởng lỗi lạc của Hoa Kỳ, đã định hình và định tính cuộc xung đột  Hoa Kỳ đang theo đuổi như “Thế Chiến Thứ Tư.” [Trong quan niệm nầy, Chiến Tranh Lạnh đã được xem như Thế Chiến Thứ Ba.]

Ngoại trừ vài nhóm tân bảo thũ, lối mô tả trên đây đã không được chấp nhận. Tuy vậy, sau gần một thập kỷ rưỡi, vị giáo sư Johns Hopkins và nguyên quan chức Bộ Ngoại Giao, vẫn tiếp tục sử dụng cùng từ ngữ. Trong một tiểu luận đăng trên tạp chí “”American Interest”” tiếp theo sau các cuộc tấn công ở Paris, Cohen đã trở lại chủ đề và nhấn mạnh:  “Đó là Thế Chiến Thứ Tư trong năm 2001. Đó là Thế Chiến Thứ Tư hôm nay.”[3] Và vì quyền lợi lớn lao của người Mỹ, Cohen đã liệt kê ít ra vài hệ lụy khi nói đến cuộc xung đột với những ngôn từ cởi mở và gợi ý.

Theo một số tác giả ngày nay, đánh giá tình trạng khó khăn trong thế giới Hồi Giáo bây giờ không mấy khác các cuộc xung đột với tầm hủy hoại lớn lao của thế kỷ trước là rất sai lầm. Tuy vậy, đó vẫn là nhận định người Mỹ, trong thời vận hiện nay, cần phải xem xét nghiền ngẫm một cách nghiêm chỉnh.

Ở Hoa Kỳ, tình trạng mơ hồ, lầm lẫn, hỗn độn về ý nghĩa của cuộc chiến đang tiếp diễn trong Vùng Trung Đông Nới Rộng hiện đang rộng khắp. Qua việc sử dụng sai lầm, áp dụng sai lầm, và nhất là, ghi nhớ sai lầm, người Mỹ đã làm méo mó từ ngữ nầy đến độ gần như khó thể nhận thức . Vì vậy, bàn luận về chiến tranh đang diễn ra quá dễ dàng bởi nhiều người thiếu hiểu biết.

Với Cohen thì khác. Khi nói đến chiến tranh, Cohen không mang bất cứ ảo tưởng nào. Đề cập đề tài, Cohen luôn soi sáng, giúp chúng ta thấy những gì chiến tranh mang lại. Vì vậy, khi dùng từ “Đệ Tứ Thế Chiến,” ông ta đã giúp chúng ta rất nhiều, ngay cả nếu có lẽ đó không phải là cuộc chiến ông ta muốn nói tới.

Những gì sẽ giúp phân biệt cuộc chiến Cohen cho là chính yếu? Cohen viết: “Bắt đầu với sức chịu đựng. Cuộc chiến nầy có lẽ sẽ kéo dài trong suốt đời tôi, và ngay cả đến đời  các con  của tôi.” Mặc dù các nhà lãnh đạo chính trị Hoa Kỳ hình như dè dặt, ngại ngùng “giải thích cái giá cao phải trả,” Cohen liệt kê tất cả với ngôn từ trực tiếp không tô điểm che đậy. Vấn đề đang tranh luận, ông nhấn mạnh, là chính lối sống của người Mỹ, không đơn thuần chỉ “trong ý nghĩa những buổi hòa nhạc kích động và rượu ngon trong tiệm ăn, mà là các quyền căn bản hơn: tự do ngôn luận, tự do tôn giáo, bình đẳng của nữ giới, và thiết yếu nhất, tự do khỏi phải sợ sệt và tự do tư duy.”[4]

Với cái giá có thể phải trả vừa liệt kê, Cohen chế nhạo chính quyền Obama có khuynh hướng trông chờ ở “ném bom trị liệu, tạm thời giúp bớt ngứa ngáy, nhưng vẫn để các vết thương mưng mủ.” Thì giờ dành cho các biện pháp nửa vời như thế đã trôi qua từ lâu. Đánh bại Islamic State và các phong trào tương tự sẽ đòi hỏi Hoa Kỳ “sát hại  rất nhiều thường dân.”Với mục đích đó, Hoa Thịnh Đốn cần “một kế hoạch dài ngày không để ‘chế ngự’ mà để ‘nghiền nát’ kẻ thù”. Ngay cả với một kế hoạch như thế, chiến thắng vẫn còn quá xa và sẽ đòi hỏi “một quá trình lâu dài, đẫm máu, và tốn kém.”[5]

Sự ngay thẳng và rành mạch của Cohen, vừa mạnh mẽ vừa hiếm hoi, buộc chúng ta phải kính trọng thán phục. Nếu “Đệ Tứ Thế Chiến” mô tả những gì chúng ta đang hướng tới, lúc đó loại bỏ ISIS chỉ có thể là một điều cấp bách phải làm trong ngắn hạn, nhưng vẫn khó thể định nghĩa trò chơi cuối cùng. Ngoài ISIS còn có bóng dáng của  tất cả những người tiếp tục tạo dựng “nhiều phong trào cùng loại” Hoa Kỳ sẽ phải lo toan, trước khi có thể tuyên bố cuộc chiến đã trọn vẹn và thực sự  thắng lợi.

Chỉ gửi hàng chục nghìn binh sĩ Hoa Kỳ đến quét sạch Syria và Iraq, như William Kristol và phe nhóm đề nghị, nhiều lắm cũng chỉ đem lại một công thức các biện pháp để thắng chỉ một chiến dịch đơn lẽ. Chiến thắng cuộc chiến rộng lớn hơn có thể đòi hỏi nhiều nỗ lực gian khổ bội phần. Cohen đã hiểu được điều nầy, đã chấp nhận, và thúc dục mọi người cùng cảnh giác.

Và ở đây, chúng ta đang đến tâm điểm của vấn đề. Trong suốt ít ra 35 năm — có nghĩa, ngay từ trước biến cố 11/9 khá lâu — Hoa Kỳ đã lâm chiến ở nhiều nơi trong thế giới Hồi Giáo. Chưa bao giờ Hoa Thịnh Đốn đã chứng tỏ ý chí hay khả năng hoàn tất cuộc chiến. Cách tiếp cận của Mỹ luôn tương tự chữa trị ung thư với chút ít hóa trị và một đợt xạ trị ngắn ngũi kế tiếp. Lối chữa trị sơ xuất như thế cũng đủ mô tả chính sách quân sự của Hoa Kỳ trong khắp Vùng Trung Đông Nới Rộng qua nhiều thập kỷ.

Trong khi có thể có nhiều lý do tại sao cuộc chiến Iraq 2003-2011 và cuộc chiến Afghanistan dài lâu hơn đã đem lại những kết quả gây thất vọng như thế, bản chất rụt rè nhút nhát trong việc thể hiện các chiến dịch của Hoa Thịnh Đốn chỉ xứng đáng tình  hình hiện hữu. Sự kiện đa số người Mỹ có thể giận dữ bất bình với từ “rụt rè nhút nhát” phản ảnh trình độ họ đã tự đánh lừa về thực tế cuộc chiến.

Chẳng hạn,  so sánh với Việt Nam, cách tiếp cận của Hoa Thịnh Đốn trong việc thực thi hai chiến dịch sau 11/9  rõ ràng là đã thiếu nhiệt  tâm. Với toàn bộ quốc gia theo đuổi các thông lệ thời bình, Hoa Thịnh Đốn đã không giàn trải đủ quân cũng như không đủ kiên trì lưu lại lâu dài bất cứ ở đâu để hoàn tất trọng trách. Vâng, Hoa Kỳ đã sát hại nhiều chục nghìn người Iraq và người Afghanistan,  nhưng như Cohen đã viết, nếu chiến thắng Đệ Tứ Thế Chiến đòi hỏi người Mỹ phải “bẻ gảy lưng” kẻ thù, lúc đó rõ ràng họ đã không giết đủ số.

Người Mỹ cũng chẳng đủ ý chí và tinh thần “hy sinh cho chính nghĩa.” Ở Nam Việt Nam, 58.000 binh sĩ Mỹ tử vong trong một nỗ lực vô ích để giúp Nam Việt Nam đủ khả năng thượng tồn. Ở Iraq và Afghanistan, nơi cái giá phải trả cao hơn rất nhiều, người Mỹ vẫn đã triệt thoái sau khi số tử vong vẫn chưa đến 7.000.[6]

Người Mỹ có thể điên để nghe theo những người như William Kristol — nhân vật, ngay cả hiện nay, vẫn đang bán rong ảo tưởng chiến tranh luôn sạch sẻ và dễ dàng. Thay vào đó, họ có thể khôn ngoan hơn khi nghe theo một Cohen biết rõ chiến tranh là gay go, gian khổ, và xấu xa.

ĐỆ TỨ THẾ CHIẾN LÀ GÌ?

Tuy vậy, khi đề cập chi tiết nội hàm thực tế của Đệ Tứ Thế Chiến, Cohen vẫn chưa sẵn sàng. Từ góc nhìn của ông, lần trùng lặp thứ tư, hay xung đột vũ trang hiện hữu, trong vòng một thế kỷ, đang diễn tiến không mấy tốt đẹp. Tuy nhiên, ngoài ý chí lớn hơn và sẵn sàng đổ máu nhiều hơn, còn phải làm gì khác để mọi chuyện diễn ra suôn sẻ đúng hướng?

Như một thử nghiệm tư duy, chúng ta cần trả lời câu hỏi với tính khẩn cấp Cohen tin là xứng đáng. Sau sự kiện 11/9, vài quan chức Hoa Kỳ đã thịnh nộ răn đe “phải ra tay”[taking the gloves off]. Tuy nhiên, trong thực tế, với ngoại lệ rõ ràng của các chính sách cho phép tra tấn và cầm tù không quan tâm đến thủ tục tố tụng, người Mỹ, tuy vậy, vẫn luôn mang găng tay. Chấp nhận quan niệm Đệ Tứ Thế Chiến của Cohen “at face value”, tình trạng nầy sẽ phải thay đổi.

Đối với những ai thiếu trải nghiệm, Hoa Kỳ cần phải di chuyển đến những gì tương tự như trong thời chiến, cho phép Hoa Thịnh Đốn tuyển mộ thêm nhiều tân binh và gia tăng ngân sách trong một thời gian rất dài lâu. Mặc dù đã khá lâu từ khi bị loại khỏi ngôn từ chính trị của Mỹ, từ “M” [mobilization] hay “Động Viên” có thể tái hợp. Theo đuổi một cuộc chiến mang tính thế hệ, xét cho cùng, sẽ đòi hỏi cam kết của nhiều thế hệ.

Hơn nữa, nếu chiến thắng trong “Đệ Tứ Thế Chiến” có nghĩa “nghiền nát kẻ thù”, như Cohen nhấn mạnh, người Mỹ lúc đó còn cần phải cầm chắc kẻ thù, một khi đã bị “nghiền nát”, không thể hồi sinh; thực tế đó cũng không kém quan trọng. Và đòi hỏi đó sẽ cấm đoán quân đội Hoa Kỳ không đơn thuần ra đi khỏi cuộc chiến đặc thù, ngay cả — hay nhất là — khi có dấu hiệu đã đắc thắng.

Trong hiện tình, đánh bại Nhà Nước Hồi Giáo được xem như ưu tiên số một của Hoa Thịnh Đốn. Với Ngũ Giác Đài đã đếm được xác 20.000 chiến binh ISIS mà chẳng mang lại một tác động đáng ghi nhớ nào, chiến dịch nầy xem chừng sẽ không chấm dứt sớm sủa. Nhưng ngay cả giả thiết một tác động có thể mang tính tích cực, trách nhiệm duy trì trật tự và ổn định trong những khu vực ISIS hiện đang kiểm soát sẽ vẫn còn. Thực vậy, trách nhiệm nầy sẽ còn kéo dài cho đến khi các điều kiện tạo lập các thực thể như ISIS đã bị loại hẳn. Đừng mong đợi Thổng Thống Pháp Francois Hollande hay Thủ Tướng Anh David Cameron ký tên nhận lãnh vai trò hay việc làm bạc bẻo đó. Quân đội Hoa Kỳ sẽ  phải “sở hữu trách nhiệm” nầy. Cuốn gói ra khỏi hiện trường sẽ không phải là một lựa chọn.

Các lực lượng quân sự Mỹ còn phải lưu lại bao lâu nữa? Ngoại suy hay phóng chiếu từ các cuộc chiếm đóng của Hoa Kỳ ở Iraq và Afghanistan gần đây, một phần tư thế kỷ xem chừng như một thời gian hợp lý. Vì vậy, nếu tổng thống thứ 45 của Mỹ cần phải chọn lựa giải pháp gửi bộ binh tiêu diệt ISIS như trường hợp khả dĩ, đặc quyền đón tiếp quân đội hồi hương có thể thuộc về Người Thứ 48 hay 49 vào cư ngụ trong Tòa Bạch Ốc.

Trong lúc chờ đợi, lực lượng quân sự Hoa Kỳ có lẽ sẽ phải đối phó với “các phong trào  thân thích họ hàng” của  ISIS,  đang chớm xuất hiện như cỏ dại lan tràn từ xứ nầy qua xứ khác.  Afghanistan — vẫn còn hay một lần nữa — có thể dẫn đầu danh sách những xứ đòi hỏi sự chú ý quân sự của Hoa Kỳ. Nhưng nhiều xứ khác có thể bao gồm những nơi có biến động Hồi Giáo như Lebanon, Libya, Palestine, Somalia, và Yemen, cùng vài xứ Tây Phi với các “thành phần dấy loạn” ngày một gia tăng. Trừ phi Ai Cập, Pakistan, và các lực lượng an ninh Saudi chứng tỏ khả năng [chưa nói đến ý chí] dẹp tắt các thành phần quá khích và  bạo động, một hay nhiều các xứ nầy cũng có thể trở thành địa điểm có nhiều hoạt động quân sự quan trọng của Hoa Kỳ.

Nói một cách khác, tiến hành hữu hiệu Đệ Tứ Thế Chiến có thể đòi hỏi Ngũ Giác Đài hoạch định đối phó với mỗi một bất ngờ vừa kể, cùng lúc còn phải thu góp tích sản để thực thi. Các đồng minh có thể trợ giúp chút ít — góp vào chút ít là những gì họ phải làm — nhưng Hoa Kỳ cần phải gồng gánh hầu hết trọng trách.

PHÍ TỔN CỦA ĐỆ TỨ THẾ CHIẾN?

Suốt Đệ Tam Thế Chiến [hay Chiến tranh Lạnh], Ngũ Giác Đài đã duy trì một cơ cấu lực lượng rõ ràng thích ứng để đồng thời tiến hành hai cuộc chiến rưởi. Điều nầy hàm ý có đủ phương tiện cần thiết để bảo vệ Âu châu và Thái Bình Dương chống lại khối Cộng Sản trong lúc vẫn dành chút ít cho những biến cố bất ngờ.

Các chiến dịch trong Thế Chiến Thứ Tư không cùng kích cỡ  với Tổ Chức Warsaw tấn công Tây Âu hay Bắc Hàn xâm lăng Nam Hàn. Tuy vậy, kích cỡ các kịch bản khả tín rõ rệt sẽ đòi hỏi các lực lượng Hoa Kỳ phải đủ khả năng đối phó với các tổ chức C và D ngay trong khi canh chừng chống lại sự dấy loạn của các tổ chức A và B trong những nơi hoàn toàn khác nhau về địa lý.

Mặc dù Hoa Thịnh Đốn có thể tìm cách, khi có thể,  tránh né các trận chiến trên bộ cỡ lớn, trông cậy vào uy lực không quân [kể cả phi cơ tự động drones] và các lực lượng Hành Quân Đặc Biệt ưu tú thực thi bắn giết, công tác bình định hậu chiến vẫn hứa hẹn một hoạt động sâu rộng cần nhiều nhân lực. Đã hẳn, điều nầy được xếp loại như một trong những bài học rõ ràng nhất từ những đợt sơ khởi của Đệ Tứ Thế Chiến: khi chiến đấu lúc đầu chấm dứt, công tác thực sự mới bắt đầu.

Các lực lượng Hoa Kỳ được sử dụng lúc đầu để xác quyết quyền kiểm soát Iraq sau cuộc xâm lăng năm 2003, vào cao điểm, đã lên đến 180.000. Ở Afghanistan, dưới thời tổng thống Obama, sự hiện diện của Mỹ đã đạt cao điểm với 110.000. Trong bối cảnh lịch sử, các con số trên đây không đặc biệt lớn. Chẳng hạn, vào cao điểm trong cuộc chiến Việt Nam, lực lượng quân đội Mỹ ở Đông Nam Á đã vượt con số 500.000.

Về sau nhìn lại, Tướng Lục Quân —  người trước cuộc xâm lăng 2003, đã công khai gợi ý công tác bình định một Iraq hậu chiến có thể cần đến “vài trăm ngàn binh sĩ”– đã ước lượng đúng. Cùng một con số tương đương được ước lượng đối với Afghanistan . Nói một cách khác, cả hai cuộc chiếm đóng nói chung có thể dễ dàng thu hút từ 600.000 đến 800.000 quân trên căn bản thường trực. Theo tiêu chuẩn chính sách luân phiên 3 trên 1 của Ngũ Giác Đài, giả thiết cứ một đơn vị tại hiện trường, một đơn vị thứ hai mới hồi hương, và một đơn vị thứ ba chuẩn bị để giàn trải, bạn đang nói đến một đòi hỏi tối thiểu từ  1,8 đến 2,4 triệu quân để duy trì hai chiến dịch cỡ trung — một con số không bao gồm vài số quân trừ bị phụ trội để sử dụng trong những trường hợp bất ngờ.

Nói một cách khác, phát động Thế Chiến Thứ Tư có thể đòi hỏi ít ra một gia tăng gấp năm kích cỡ hiện hữu của Quân Đội Hoa Kỳ — không phải như một biện pháp cấp thời mà là biện pháp thường xuyên. Những con số như thế, mới nhìn, hình như lớn lao; nhưng như Cohen sẽ  là người đầu tiên nêu rõ, các con số đó thực ra khá khiêm tốn so với các cuộc thế chiến trước đây. Năm 1968, giữa Thế Chiến Thứ Ba, Hoa Kỳ có một quân số trên 1,5 triệu lính tự nguyện  —  đây là khi tổng dân số Hoa Kỳ ít hơn 2/3 con số hiện nay, và khi phụ nữ, vì giới tính, luôn được miễn trừ nhiệm vụ quân sự. Do đó, nếu chọn  lựa  Đệ Tứ Thế Chiến,  Hoa Kỳ ngày nay có thể phải duy trì một đội quân hai triệu binh sĩ hay nhiều hơn.

Liệu Hoa Kỳ cũng có thể duy trì mô hình hiện hữu của một lực lượng hoàn toàn tự nguyện là một vấn đề khác. Nhân viên tuyển mộ có thể phải đối đầu với nhiều thử thách, ngay cả nếu Quốc Hội quyết định nâng cao các khích lệ vật chất cho quân nhân, điều kể từ 11/9, đã bao gồm một loạt tăng lương rộng lớn cho quân nhân. Nới rộng chính sách nhập cư, ban cấp quốc tịch cho vài trăm nghìn người nước ngoài để đổi lấy khả năng hoàn tất một nhiệm kỳ trong quân đội, cũng có thể hữu hiệu. Tuy nhiên, rất có thể , cũng như với ba thế chiến trước đây, phát động Đệ Tứ Thế Chiến có thể buộc Hoa Kỳ phải tái lập luật động viên, một viễn cảnh rất có thể được tiếp nhận rộng rãi với làn sóng thanh niên da mầu nhập cư ghi tên nhập ngũ. Tóm lại, dốc toàn lực cấu tạo các lực lượng cần để thắng Thế Chiến Thứ Tư có thể khiến người Mỹ phải đối đầu với những lựa chọn không mấy thoải mái.

Những hệ quả về ngân sách của các lực lượng Hoa Kỳ ngày một bành trướng,  trong khi theo đuổi một loạt những gì Ngũ Giác Đài gọi là “các cuộc hành quân bất ngờ ở hải ngoại,” cũng sẽ cực kỳ lớn lao. Chính xác bao nhiêu tiền một xung đột toàn cầu được phóng chiếu kéo dài vào nửa sau của thế kỷ có thể đòi hỏi, là con số khó lòng lượng định. Như một khởi điểm, với con số gia tăng các lực lượng hiện dịch, tăng gấp ba  ngân sách Bộ Quốc Phòng hiện nay — trên 600 tỉ — có thể sử dụng như con số ước lượng phải chăng.

Mới nhìn qua lần đầu, 1.800 tỉ hàng năm là con số lớn kinh khủng. Để ít nhiều dễ được chấp nhận hơn, một đề xuất Đệ Tứ Thế Chiến có thể đưa ra con số dự kiến. Chẳng hạn, trong giai đoạn đầu của Đệ Tam Thế Chiến, Hoa Kỳ thường phân phối 10% hay cao hơn GDP cho an ninh quốc gia. Với GDP ngày nay vượt quá 17.000 tỉ, cấp 10% cho Ngũ Giác Đài có thể, đối với những ai có trọng trách điều hành Đệ Tứ Thế Chiến, là một ngân khoản hấp dẫn để trang trải mọi chi phí trong cuộc chiến.

Đã hẳn, số tiền nầy có thể phải đến từ đâu đó. Trong vài năm trong suốt thập kỷ vừa qua, các cuộc chiến tiếp diễn ở Iraq và Afghanistan đã đẩy số khuy khiếm liên bang lên trên 1.000 tỉ mỹ kim. Như một hậu quả, tổng số quốc trái  hiện nay vượt quá GDP hàng năm, và tăng gấp ba kể từ 11/9. Bao nhiêu nợ mới Hoa Kỳ có thể chồng chất mà vẫn không gây tai hại vĩnh viễn cho nền kinh tế là một vấn đề vượt quá ưu tư của giới hàn lâm.

Để tránh Đệ Tứ Thế Chiến phải đem lại một chuổi các khuy khiếm lớn lao không thể chấp nhận, gia tăng chi tiêu quân sự đã hẳn có thể đòi hỏi hoặc tăng thuế lớn lao hay cắt giảm đáng kể các chi tiêu dân sự, kể cả các chương trình lớn như Medicare và an ninh xã hội — rõ ràng là những chương trình các thành phần trung lưu quan tâm  nhiều nhất.

Nói một cách khác, tài trợ Đệ Tứ Thế Chiến trong khi duy trì một bề ngoài trách nhiệm thuế vụ có thể đem đến một thứ trao đổi các lãnh đạo chính trị không ưa thích. Ngày nay, Cộng Hòa cũng như Dân Chủ đều không sẵn sàng đối diện với các thử thách loại nầy. Thực tế nhu cầu phát động các cuộc chiến dài lâu sẽ thuyết phục cả hai đảng phải gạt qua một bên các dị biệt hình như khó lòng thể hiện. Cho đến nay cả hai đảng rõ ràng đang tránh né.

ĐỆ TỨ THẾ CHIẾN ĐIÊN RỒ

Trong tiểu luận của mình, Cohen viết, “chúng ta cần phải chấm dứt mọi vòng vo tam quốc.” Với những ai có thể gánh vác trách nhiệm thế chiến nặng nề của mình, Cohen nói: “chúng ta phải bắt đầu nói sự thật với họ.” Cohen nói rất đúng, ngay cả khi chính ông cũng luôn giữ im lặng về những gì Đệ Tứ Thế Chiến phải đòi hỏi từ cử tri trung bình.

Trong khi Hoa Kỳ đang bước vào năm bầu cử tổng thống, nói thẳng, nói thật về triển vọng các cuộc chiến đang tiếp diễn trong thế giới Hồi Giáo phải là câu chuyện hàng ngày. Giả thiết ném thêm một ít bom và tên lửa hay xâm lăng thêm một hay hai xứ sẽ giúp đem lại kết thúc chung cuộc không những là một lẫn tránh trách nhiệm, mà là một dối trá trắng trợn.

Như Cohen đã hiểu rõ, chiến thắng Đệ Tứ Thế Chiến có thể đòi hỏi rất nhiều bom đạn và nhiều cuộc xâm lăng và chiếm đóng trong nhiều năm sắp đến và trong nhiều xứ khác nhau. Xét cho cùng, Hoa thịnh Đốn sẽ phải đối phó không chỉ với ISIS, mà cả với các tổ chức liên kết, các tổ chức trực hệ và bàng hệ, và nói chung, các hậu duệ, các tổ chức kế thừa ISIS … Và cũng đừng nên quên al-Qaeda.

Cohen tin: người Mỹ không có giải pháp thay thế. Ông nói bộc trực: “Hoặc chúng ta phải nghiêm chỉnh chiến đấu trong Đệ Tứ Thế Chiến theo phương cách Đệ Tứ Thế chiến cần được chiến đấu hoặc bóng đêm sẽ bao phủ Hoa Kỳ.” Cohen  không chùn bước trước sự thật hiển nhiên: chúng ta giàn trải binh sĩ của chúng ta càng sâu vào Vùng Trung Đông Nới Rộng, phe kháng chiến càng đồng tình; chúng ta giết càng nhiều chiến binh, hình như chúng ta càng tạo thêm nhiều chiến binh hơn nữa; dù không thể tránh hay ngay cả không có chủ ý, giết hại thường dân vô tội cũng chỉ tăng cường hàng ngũ những thành phần cực đoan. Như Cohen đã thấy rõ, càng tin vào kết quả, chúng ta không có lựa chọn nào khác hơn là càng phải tiếp tục đi tới.[7]

Trong khi cẩn thận lắng nghe lời kêu gọi nhập cuộc của Cohen, người Mỹ nên suy tư  về hệ lụy. Chiến tranh sẽ thay đổi xứ sở và người dân. Vồ vập đơn thuốc Đệ Tứ Thế Chiến của Cohen có thể làm thay đổi Hoa Kỳ trong nhiều phương cách cơ bản.  Đơn thuốc có thể bành trướng kích cỡ và tầm với của guồng máy an ninh quốc gia, một guồng máy, đã hẳn, bao gồm các cơ quan, các định chế,  ngay cả bên ngoài lảnh vực quân sự. Đơn thuốc có thể biến quá trình quân sự hóa lối sống của người Mỹ, một di sản của các thế chiến trước đây, trở nên không thể thay đổi hay đảo ngược. Qua quá trình gieo rắc sợ hải và un đúc hy vọng an ninh tuyệt đối, đơn thuốc cũng có thể phương hại thay vì bảo vệ và phát huy “tự do của người Mỹ”. Hoa kỳ, trong nhiều thập kỷ sắp tới rất có thể sẽ cử hành ngày lễ “VT DAY” [victory over terrorism–chiến thắng khủng bố], và sẽ trở thành một xứ hoàn toàn khác, trên các bình diện vật chất, chính trị, văn hóa, và đạo đức.

Theo quan điểm của nhiều sử gia, Đệ Tứ Thế Chiến của Cohen là một mời gọi “tự tử tập thể”. Luận cứ “không có giải pháp thay thế cho chiến tranh không dứt” biểu hiện không phải chủ nghĩa thực tiễn cứng rắn, mà là từ bỏ nghệ thuật lãnh đạo quốc gia. Tuy nhiên, đây quả là oái oăm hay trớ trêu tột cùng: ngay cả không tên, Hoa Kỳ đã bước vào một địa hạt không mấy khác thế chiến, nay đang trải rộng đến những bến bờ xa xôi của thế giới Hồi giáo và lan tràn xa rộng hơn từ năm nầy qua năm khác.

Từ từ gia tăng, mỗi lúc một ít, cuộc chiến không tên đã bành trướng kích cỡ và tầm với của guồng máy an ninh quốc gia. Chiến tranh đã chuyển hướng số lớn tài nguyên đến những mục tiêu không mang tính sản xuất, ngay cả cùng lúc liên tục quân sự hóa lối sống Hoa Kỳ. Qua tuyên truyền gieo rắc lo sợ và cổ súy những chờ đợi an ninh tuyệt đối không thể thỏa mãn, cuộc chiến không tên, mặc dù nhân danh bảo vệ, trong thực tế,  lúc một bào mòn “Tự Do Hoa Kỳ”, ngay trước mắt chúng ta.

Cohen đã công khai chỉ trích một cách chính đáng đặc tính mất phương hướng của các chính sách chỉ đạo cuộc chiến cho đến nay. Với các phê bình mang tính xây dựng đó, chúng ta đang thiếu nợ tác giả rất nhiều. Nhưng vần đề thực sự là với chính cuộc chiến, và lòng tin chỉ qua chiến tranh, Hoa Kỳ mới tồn tại như Hoa Kỳ.

Khi một quốc gia giàu có và hùng mạnh kết luận: không có lựa chọn nào khác hơn là theo đuổi một cuộc chiến vũ trang hầu như vĩnh viễn trong những vùng xa xôi của hành tinh, quốc gia đó đang biểu hiệu đỉnh cao của điên rồ. Quyền lực đem lại lựa chọn. Trong tư cách công dân, cử tri Mỹ phải tận lực đề kháng các luận cứ phủ nhận sự hiện hữu của lựa chọn. Hoặc được đề xuất một cách bộc trực thẳng thắn bởi Cohen hay một cách thiếu trách nhiệm bởi những thành phần dốt nát về quân sự, các luận điệu như thế sẽ chỉ vĩnh viễn hóa thái độ điên rồ vốn sẵn đã kéo dài quá lâu.

 

Nguyễn Trường

16-12-2015

Irvine, California, U.S.A.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

[1] “We came, we saw, he died.”

[2] In the wake of the recent attacks in Paris, the American mood is strongly trending in favor of this sort of escalation. Just about anyone who is anyone — the current occupant of the Oval Office partially excepted — favors intensifying the U.S. military campaign against ISIS. And why not? What could possibly go wrong? As Kristol puts it, “I don’t think there’s much in the way of unanticipated side effects that are going to be bad there.”

[3] “It was World War IV in 2001,” Cohen insists. “It is World War IV today.”

[4] What will distinguish the war that Cohen deems essential? “Begin with endurance,” he writes. “This war will probably go on for the rest of my life, and well into my children’s.” Although American political leaders seem reluctant “to explain just how high the stakes are,” Cohen lays them out in direct, unvarnished language. At issue, he insists, is the American way of life itself, not simply “in the sense of rock concerts and alcohol in restaurants, but the more fundamental rights of freedom of speech and religion, the equality of women, and, most essentially, the freedom from fear and freedom to think.”

[5] What will distinguish the war that Cohen deems essential? “Begin with endurance,” he writes. “This war will probably go on for the rest of my life, and well into my children’s.” Although American political leaders seem reluctant “to explain just how high the stakes are,” Cohen lays them out in direct, unvarnished language. At issue, he insists, is the American way of life itself, not simply “in the sense of rock concerts and alcohol in restaurants, but the more fundamental rights of freedom of speech and religion, the equality of women, and, most essentially, the freedom from fear and freedom to think.”

[6] In comparison to Vietnam, for example, Washington’s approach to waging its two principal post-9/11 campaigns was positively half-hearted. With the nation as a whole adhering to peacetime routines, Washington neither sent enough troops nor stayed anywhere near long enough to finish the job. Yes, we killed many tens of thousands of Iraqis and Afghans, but if winning World War IV requires, as Cohen writes, that we “break the back” of the enemy, then we obviously didn’t kill nearly enough.

Nor were Americans sufficiently willing to die for the cause. In South Vietnam, 58,000 G.I.s died in a futile effort to enable that country to survive. In Iraq and Afghanistan, where the stakes were presumably much higher, we pulled the plug after fewer than 7,000 deaths.

[7] Cohen believes that we have no alternative. Either we get serious about fighting World War IV the way it needs to be fought or darkness will envelop the land. He is undeterred by the evidence that the more deeply we insert our soldiers into the Greater Middle East the more concerted the resistance they face; that the more militants we kill the more we seem to create; that the inevitable, if unintended, killing of innocents only serves to strengthen the hand of the extremists. As he sees it, with everything we believe in riding on the outcome, we have no choice but to press on.

Advertisements