QUÂN ĐỘI DO DÂN, CỦA DÂN, VÌ DÂN và  QUÂN ĐỘI HẬU-DÂN-CHỦ

Trong suốt những thập kỷ kể từ khi luật thực thi nghĩa vụ quân sự được chấm dứt vào năm 1973, một quân đội mới kỳ lạ đã xuất đầu lộ diện ở Hoa Kỳ. Nếu muốn, bạn có thể gọi đó là một quân-đội-hậu-dân-chủ tự khoác vào mình đặc tính chiến sĩ vô danh thay vì lý tưởng quân đội nhân dân truyền thống. Với đặc tính mới, quân đội mới ngày một xa rời cơ sở nhân dân truyền thống, với lối hành xử ngày một xa lạ đối với hầu hết công dân Hoa Kỳ [luôn muốn tỏ lòng tri ân các chiến sĩ]. Ở hải ngoại, đội quân đó ngày nay thường phải phụng sự những cứu cánh không chút liên hệ với ý niệm quốc phòng.  Ở Hoa Thịnh Đốn, quân đội mới đã trở thành một một đội quân riêng biệt, với ưu tiên riêng, theo đuổi những nghị trình riêng và ngày một độc lập đối với Tổng Thống và Quốc Hội.

 

Ba địa hạt tô đậm quá trình biến chuyển của đội quân nầy ngày một rõ ràng đáng ngạc nhiên: sự trộn lẫn các đội quân chuyên nghiệp với các lực lượng đánh thuê trong các cuộc chiến “hạn chế” nhưng triền miên; phương cách các tư lệnh quân sự cao cấp ngày một quan tâm nhiều hơn đến tiềm năng làm giàu sau khi hưu trí; và cuối cùng Bộ Tư Lệnh Hành Quân Đặc Biệt Hoa Kỳ [U.S. Special Operations Command — SOCOM] đã ra đời như một đội quân đế quốc với sự hiện diện trong ít nhất 135 quốc gia và ngày một gia tăng.

 

QUÂN ĐỘI TÌNH NGUYỆN và LÍNH ĐÁNH THUÊ — MỘT HỖN HỢP PHI DÂN CHỦ

 

William Astore,  Trung Tá Không Quân hưu trí và đương kim giáo sư sử học, là sản phẩm của đội quân hoàn toàn tình nguyện. Năm 1973, chính quyền Nixon đã chấm dứt luật động viên hay nghĩa vụ quân sự, đồng thời đánh dấu chung điểm của truyền thống một quân đội nhân dân [citizen-soldier tradition] trước đó đã từng phục vụ Hoa Kỳ trong suốt hai thế kỷ.

 

Vào thời điểm đó, cả các tướng lãnh và tổng thống đều không muốn phải đối diện một tương lai “trong phong cách kỷ nguyên Việt Nam” vừa khép lại, với đội-quân-nhân-dân vừa từ bỏ Quân Đội để xuống đường bỏ phiếu bằng chân và bằng miệng trong làn sóng phản đối và xáo trộn. Quân đội mới phải là các quân nhân nhà nghề hoàn toàn tình nguyện. Và bạn cần hiểu: không phản kháng, không xuống đường, không phản chiến; tóm lại, không lặp lại những gì vừa xẩy ra. Và đó là những gì đã được duy trì trong hơn bốn mươi năm qua.

 

Đa số người Mỹ đã hoan nghênh khi thấy luật nghĩa vụ công dân được bải bỏ. Mặc dù một số thanh niên vẫn còn đăng ký gia nhập các binh chủng lựa chọn khi đến tuổi 18, nhưng quần chúng vẫn không đòi hỏi tái lập luật nghĩa vụ công dân, cũng chẳng có kế hoạch nghiêm chỉnh nào nhằm vãn hồi luật cũ.

 

Tuy vậy, sự bải bỏ luật nầy cũng chẳng được người dân ca ngợi. Cùng lúc, một số quân nhân cũng khuyến cáo chống lại quyết định bải bỏ. Họ tin: trong thực tế, những gì đã xẩy ra cũng đã xẩy ra;  một đội quân hoàn toàn tự nguyện có thể dễ dàng hậu thuẩn các cuộc phiêu lưu quân sự; các lãnh đạo dân sự cũng không còn phải âu lo sự chống đối lệnh gọi động viên có thể gây ra trong các cuộc chiến không tuyên chiến và không mấy được người dân ủng hộ.

 

Năm 1982, sử gia Joseph Ellis đã tóm lược những tình cảm như thế trong bài bình luận nhan đề ”Những Bài Học Quân Sự từ Cuộc Chiến Việt Nam” trong tác phẩm “Men at War”:

 

“Hầu như tất cả các nghiên cứu về quân đội hoàn toàn tự nguyện đều cho thấy:  thường  không mấy mang tính đại diện hay đáp ứng dư luận quần chúng, tốn kém hơn, quan tâm nhiều hơn đến đặc quyền riêng của mình, bài ngoại hơn — nói một cách khác, dễ lặp lại những lỗi lầm quan trọng nhất trong chiến tranh Việt Nam … Có lẽ nét đáng lo nhất của một quân đội hoàn toàn tình nguyện là định chế nầy khuyến khích quân nhân tự cô lập khỏi xã hội dân sự và tự cho phép bám víu cho kỳ được các viễn kiến lỗi thời của binh nghiệp. Chắc chắn nó sẽ gây thêm một gánh nặng trách nhiệm đối với các quan chức dân sự phải áp đặt các hạn chế trong các cuộc hành quân, các hạn chế giới quân nhân chắc chắn sẽ cảm nhận không chính đáng.”

[V]irtually all studies of the all-volunteer army have indicated that it is likely to be less representative of and responsive to popular opinion, more expensive, more jealous of its own prerogatives, more xenophobic — in other words, more likely to repeat some of the most grievous mistakes of Vietnam … Perhaps the most worrisome feature of the all-volunteer army is that it encourages soldiers to insulate themselves from civilian society and allows them to cling tenaciously to outmoded visions of the profession of arms.  It certainly puts an increased burden of responsibility on civilian officials to impose restraints on military operations, restraints which the soldiers will surely perceive as unjustified.]

 

 

Ellis đã viết như trên cách đây hơn 30 năm — trước Desert Storm, trước các cuộc xâm lăng Afghanistan và Iraq, hay trước khi phát động Cuộc Chiến chống Khủng Bố. Các cuộc chiến nầy [và các can thiệp quân sự khác trong những thập kỷ vừa qua] đã cung cấp bằng chứng sống động khiến các quan chức dân sự cảm nhận bạo dạn hơn khi nắm một quân đội không nhiều  vướng bận như quân đội nhân dân truyền thống trước đây. Quả thật, thực tế nầy cho thấy một thay đổi khá quan trọng trong bối cảnh thế kỷ XXI: các tướng lãnh đôi khi đã cảm nhận nhu cầu phải kiềm chế các cấp lãnh đạo dân sự hơn là ngược lại. Chẳng hạn, chúng ta còn nhớ sự cảnh cáo của TổngTham Mưu Trưởng Quân Đôi, Tướng  Eric Shinseki, vào đầu năm 2003:  một Iraq hậu xâm lăng có thể cần được chiếm đóng bởi “vài trăm nghìn quân nhân”. Shinseki rõ ràng đã hy vọng ước tính khá thực tế của ông có thể giúp làm nguội bớt thái độ lạc quan thái quá của các giới chức cao cấp trong chính quyền Bush:  cuộc chiến Iraq sẽ khá dễ dàng [a”cakewalk”], dọc vệ đường   dân Iraq sẽ dâng hoa đón tiếp đội quân xâm lăng, và ở Iraq Hoa Kỳ có thể đóng quân kiểu Mỹ theo phương cách một Nam Hàn cho đến khi rơi vào địa ngục. Shinseki đã chứng tỏ khả năng tiên tri của mình, nhưng đã không thành công. Lời khuyến cáo của Tướng Shinseki cũng như chính cá nhân ông đều đã  bị gạt bỏ.

 

Các biến cố kể từ Desert Storm trong năm 1991 gợi ý:  một quân đội hoàn toàn tình nguyện là một tai họa hơn là một phước lành. Một phần nào đó rất đáng trách: một động lực mới trong lịch sử Hoa Kỳ hiện đại, sự kiến tạo một  lực lượng quân sự khổng lồ không phải của nhân dân, bởi nhân dân, hay vì nhân dân. Quả thật, đây là một năng động không mấy mới mẻ trong lịch sử. Viết trong thế kỷ XVIII về sự suy đồi và sụp đổ của La Mã, sử gia Edward Gibbon đã ghi nhận:

 

“Trong những kỷ nguyên trong sáng hơn của khối thịnh vượng chung [của La Mã],  sử dụng chiến tranh đã được dành cho những hàng ngũ công dân có một xứ sở để yêu thương, một tài sản để bảo vệ, và một phần trong quá trình ban hành các pháp chế nầy, Anhững gì họ có quyền lợi, cũng như bổn phận, để duy trì. Nhưng trong chừng mức cân đối  khi tự do công cộng đã bị đánh mất trong qui mô chinh phục, chiến tranh dần dà đã được cải thiện trở thành một nghệ thuật, và xuống cấp biến thành một mậu dịch.” 

[In the purer ages of the commonwealth [of Rome], the use of arms was reserved for those ranks of citizens who had a country to love, a property to defend, and some share in enacting those laws, which it was their interest, as well as duty, to maintain. But in proportion as the public freedom was lost in extent of conquest, war was gradually improved into an art, and degraded into a trade.]

 

Trong khi Hoa Kỳ đã trở nên độc tài hơn và bành trướng rộng lớn hơn, quân đội đã trở thành phương tiện phục vụ  nhu cầu của kẻ khác, trong đó một số  thượng lưu luôn ám ảnh  bởi các giấc mơ doanh lợi và uy quyền. Vài người sẽ đưa ra luận cứ: điều nầy cũng chẳng có gì mới mẻ. William Astore, người đã đọc Smedley Butler và đã ý thức rõ ràng:  trên bình diện lịch sử, quân đội Hoa Kỳ thường được sử dụng trong nhiều phương cách phi dân chủ để bảo vệ và hậu thuẩn các quyền lợi doanh thương khác nhau. Tuy nhiên, vào thời Tướng Butler, quân đội chỉ là một lực lượng bé nhỏ bán chuyên nghiệp và tầm với còn giới hạn. Dạng thức ngày nay đã khổng lồ, đồn trú trên dưới 800 căn cứ hải ngoại trên toàn cầu, với khả năng gửi phi cơ tự động trang bị hỏa tiển Hellfire với sứ mệnh ám sát trong nhiều xứ khắp vùng Trung Đông Nới Rộng  và Phi châu, và viễn kiến có tên gọi “áp đảo rộng khắp” hay “full-spectrum dominance” nhằm thể hiện “tầm với toàn cầu, quyền lực toàn cầu” — global reach, global power”. Tóm lại, lực lượng quân sự của Hoa Kỳ hiện nay rất hùng mạnh và đầy uy lực, chẳng phải chịu trách nhiệm trước bất cứ ai — và nguy hiểm hơn rất nhiều.  

 

Cùng lúc với sự xuất hiện của một quân đội hậu-dân-chủ, một tập thể các công ty chiến binh hay “warrior corporations” đã ra đời —  các thành phần tư nhân hay lính đánh thuê vì doanh lợi nay luôn tháp tùng các lực lượng Hoa Kỳ với quân số tương đương trong các vùng chiến sự. Trong cuộc xâm lăng và chiếm đóng Iraq, Blackwater là thành phần quan trọng rõ ràng nhất, ngoài ra còn có sự hiện diện của các chiến binh đánh thuê khác như Triple Canopy và DynCorp. Sự xuất hiện ngày một gia tăng của các chiến binh và lính đánh thuê tư nhân hiển nhiên đang góp phần vào các hành động mang bản chất phi-dân-chủ và hoàn toàn chẳng dính dấp gì đến ước muốn và ý chí của nhân dân. Trong bản chất, đó cũng là một hình thức chiến tranh thiếu trách nhiệm [a less accountable form of war], bởi lẽ không ai buồn quan tâm đến các tử-thi vì-doanh-lợi, và thể xác của họ cũng chẳng được chôn cất trang nghiêm trong các quan tài phủ quốc kỳ trong các nghĩa trang quân đội; và người Mỹ cũng không tìm đến các lính đánh thuê như thế để tỏ lòng tri ân về sự hy sinh của họ. Tất cả những sự thật phủ phàng đó đang cho phép quá trình triển khai một hình thức chiến tranh thầm lặng  — “a significantly under-the-radar form of war making.”

 

Cụm từ “chiến tranh hạn chế” [limited war], ứng dụng trong các cuộc xung đột ở Âu Châu từ cuối “Cuộc Chiến Ba Mươi Năm” vào năm 1648 đến “Cuộc Cách Mạng 1789 “ của Pháp, và về sau, trong các cuộc chiến quy ước trong kỷ nguyên vũ khí nguyên tử, đã khoác một ý nghĩa mới ở“Hoa Kỳ thế-kỷ-XXI”. Ngày nay, giới hạn của “chiến tranh hạn chế”, như đang diễn ra, ít liên quan đến chiến sĩ và liên can  nhiều hơn đến nhân dân Hoa Kỳ, những thành phần ngày một bị loại khỏi quá trình. Chẳng hạn, họ không bao giờ được động viên tham chiến, nhưng luôn được khuyến khích hành động như luôn sinh sống trong một xứ không hề có chiến tranh. Các nỗ lực chiến tranh của Hoa Kỳ, luôn diễn ra trong những vùng đất xa lạ, luôn được giả thiết không can dự  gì đến sinh hoạt bình thường ở “quốc nội” [homeland], và thực tế nầy đã hẳn  có nghĩa chủ nghĩa tiêu thụ và chỉ biết tiêu thụ. Bạn sẽ không thấy chế độ “khẩu phần” [rationing] ở Hoa Kỳ ngày nay, cũng không có lời kêu gọi hy sinh thường lệ nào. Nếu có điều gì, đó là chiến tranh đơn thuần đã trở nên một món hàng tiêu thụ khác trên thực đơn của người Mỹ. Người Mỹ tiêu thụ nhiên liệu và tài nguyên, tiền bạc, và trí thông minh, tất cả với số lượng lớn lao. Trong một nghĩa nào đó, chính họ cũng chỉ là một món hàng tiêu thụ để kiếm doanh lợi, thường buộc chặt với các trò chơi video games, phim ảnh, và các hình thức giải trí khác.

 

Trong không khí thi đua kiếm tiền và nhân danh lòng ái quốc, các kinh rợn của chiến tranh, như nhiều người Mỹ đã từng phải đối mặt trong kỷ nguyên chiến tranh Việt Nam, phần lớn ngày nay không còn được quan tâm. Một vấn đề mùa bầu cử năm nay đã nêu lên: Điều gì sẽ xẩy ra nếu quân đội hậu-dân-chủ của người Mỹ bị cuốn hút bởi một nhà độc tài luôn đòi hỏi phải tuân theo ảo vọng của chính mình trong chính nghĩa: “vì sự vĩ đại của Hoa Kỳ lần nữa”? [making America great again?].

 

Qua năm  2017, chúng ta có thể sẽ biết rõ hơn.

 

TƯỚNG LÃNH CAO CẤP: HƯU TRÍ VÀ LÀM GIÀU

 

Đã có một thời khi các quân nhân như Douglas MacArthur suy ngẫm và ước mơ ngày một mờ nhạt dần trong tuổi hưu trí. Các tướng lãnh ngày nay không còn mơ tưởng như thế. Giống như nhiều chính trị gia, họ thường tìm kiếm các câu lạc bộ triệu phú sau khi hưu trí, ngay cả khi họ đang nhận lương hưu sáu con số và các bổng lộc khác từ chính quyền. Trong những năm hậu-quân-nhân hay hưu trí, là một John Q. Public vẫn chưa đủ. Họ phải là Tướng Johannes Q. Publicus [hưu trí], một chuyên gia tài chánh tài ba tương lai, một CEO quyền lực, hay một nhà giáo dục tên tuổi. Tốt hơn hết,  là cả ba.

 

Hãy xem trường hợp Tướng David Petraeus,  ‘surge” general của Hoa Kỳ ở Iraq và sau đó là Tư Lệnh U.S. Central Command. David  mất chức vụ giám đốc CIA trong nhục nhã sau vụ ngoại tình và tiết lộ các thông tin mật với bạn gái viết tiểu sử cho chính mình. Petraeus từ đó đã kiếm được ghế giáo sư ở đại học University of Southern California, the City University of New York, và Harvard’s Kennedy School trong khi đang được mời làm chủ tịch xí nghiệp đầu tư KKR Global Institute.

 

Một tướng lãnh hưu trí khác đã làm giàu với một xí nghiệp đầu tư là Ray Odierno, nguyên Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội, đã trở thành cố vấn đặc biệt  của đại công ty tài chánh JP Morgan Chase.

Nhưng ít tướng lãnh nào có thể vượt qua Tướng Không Quân hưu trí John Jumper. Vị tướng nầy đã làm giàu qua quyết định gia nhập hội đồng quản trị nhiều công ty, kể cả hội đồng các giám đốc của Science Applications International Corporation — SAIC, một nhà thầu quốc phòng quan trọng. Sau 5 năm, ông ta đã trở thành CEO với số lương bảy con số. Lúc đó bạn đã có các tướng lãnh hưu trí vơi số lương 300 USD/giờ, tư vấn cho các thuộc hạ trước đây tại Ngũ Giác Đài với tư cách “các cố vấn lảo thành”– [senior mentors].

 

Không ai chờ đợi các tướng lãnh hồi hưu phải tuyên thệ sống trong cảnh thanh bần. Quả thật, lương hưu lớn lao và các bổng lộc khác của chính quyền có thể đã loại bỏ các lời thề như thế. Nhưng trong thế giới quân đội hậu-dân-chủ, trách nhiệm, danh dự, quốc gia, đã trở thành trách nhiệm, danh dự, tiền mặt.

 

Trong giới tướng lãnh hưu trí, không một Cincinnatus  nào cần phải đi xin việc. Đã hẳn, luôn có một cánh cửa xoay giữa Ngũ Giác Đài và các phòng họp của các Hội Đồng Quản Trị các đại công ty, nhưng cánh cửa đó hình như đang xoay chuyển lúc một nhanh hơn trong thế kỷ XXI.

 

Hiểm họa của tình trạng trên đây quả thật đã khá rõ ràng: viễn ảnh làm giàu lớn lao và nhanh chóng sau khi hưu trí chẳng thể giúp được gì, ngoài ảnh hưởng tai hại đến khả năng xét đoán của các tướng lãnh trong khi họ còn đang mặc quân phục. Một khi bạn đã với tới một cấp bậc cao, câu lạc bộ các đồng môn, nơi mọi người đều biết rõ danh tánh của nhau, đang chờ đón bạn. Như một người trực ngôn luôn chỉ trích thành tích của một nhà thầu, hay như một cá nhân từ chối luật chơi hay tư duy theo thông lệ  của Hoa Thịnh Đốn, bạn sẽ không có cơ may được thu nhận vào những địa vị làm ra tiền bởi các hội đồng quản trị khác nhau sau khi hưu trí.

 

Một hệ thống thiển cận, ngay cả thưởng phạt vô luân như thế, đương nhiên luôn tăng cường lối tư duy quy ước. Các tướng lãnh sắp hưu trí thường phụ họa và theo đuôi để được thu nhận — [go along to get along], chấp nhận lối tư duy thời thượng đối với chủ nghĩa can thiệp, chủ nghĩa phiêu lưu và áp đảo. Đặc biệt rắc rối là liên tục thúc đẩy bán vũ khí và trang bị quân sự ra nước ngoài [xuất khẩu vũ khí] trong những vùng đang sôi sục chinh chiến. Bằng cách nầy, kỹ  nghệ  vũ khí và chiến tranh ngày một làm gia tăng ngạch số doanh thương của Hoa Kỳ, như một siêu chường với khu vực kỹ nghệ  ngày một tăng trưởng và tăng cường khi các tướng lãnh hồi hưu được mời giữ điạ vị  lãnh đạo  trong các đại công ty, cố vấn các viện tài chánh, và ngay cả huấn luyện lớp trẻ trong các định chế giáo dục  uy tín.

 

Petraeus không phải là vị tướng duy nhất đang thuyết giảng trong các định chế như thế. Tướng Stanley McChrystal, người nỗi tiếng sau khi bị Tổng Thống Obama sa thải vì dung dưỡng một bầu không khí tham mưu thiếu tôn trọng dây chuyền chỉ huy dân sự, hiện đang là một chuyên gia nghiên cứu cao cấp tại Viện Jackson thuộc Đại Học Yale. Đô Đốc William McRaven, nguyên chỉ huy Bộ Tư Lệnh Hành Quân Đặc Biệt Hoa Kỳ trong kỷ nguyên các trại giam và tra tấn [black sites] gây nhiều thương vong, hiện đang là Viện Trưởng toàn bộ hệ thống Đại Học Texas. McRaven chẳng hề có thành tích trong ngành giáo dục, cũng như Odierno chẳng có kinh nghiệm gì về tài chánh trước khi được mướn vào vị trí uy quyền hàng đầu. Tuy nhiên, cả hai đều thuộc hàng ngũ “company men”, những cá nhân khi hưu trí, đã chấp hữu  một danh sách nhiều nhân vật quan trọng thân quen trong các đại công ty, giúp biến họ thành những “món hàng đắt giá,” [highly marketable commodities].

 

Nếu bạn đang mang ba hay bốn sao trong quân đội, có nghĩa bạn đã được tôi luyện và chắt lọc như một “company man”, bởi lẽ quá trình thăng thưởng đã loại bỏ mọi “thành phần ngoại đạo” [mavericks]. Những thành phần tư duy độc lập thường có khuynh hướng hưu trí, và ra  khỏi quân đội khi còn trẻ tuổi trước khi có thể với tới vai trò ứng viên cấp tướng lãnh. Những sĩ quan bền chí nhất và thường là “chính trị nhất”, thay vì những thành phần thông minh và tốt nhất, mới có nhiều cơ may leo lên đỉnh cao.

 

HÀNH QUÂN ĐẶC BIỆT: DÒNG TÊN CỦA QUÂN ĐỘI HOA KỲ

 

Theo Nick Turse, Hoa Kỳ trong kỷ nguyên hậu-9/11 đã chứng kiến một sự trưởng thành nhanh chóng của Bộ Tư Lệnh Hành Quân Đặc Biệt, hay SOCOM, một đội quân bí mật bên trong quân đội với quân số nay đã lên tới 70.000 quân nhân. Học giả và nguyên cố vấn CIA, Chalmers Johnson, quen xem Cơ Quan nầy như đạo quân riêng của tổng thống. Ngày nay, tổng tư lệnh quân đội, trên danh nghĩa, quả thật đang sở hữu một đội quân như thế [vì lẽ, trong một ý nghĩa, tổng thống hiên nay cũng có một không quân tự động riêng gồm các drones-ám-sát, có thể gửi đến hầu như bất cứ  đâu]. Sự bành trướng của SOCOM từ một con số khiêm tốn các đơn vị quân sự tinh nhuệ [như Green Berets hay SEAL Team 6] thành một lực lượng lớn hơn các con số có ý nghĩa của nhiều quốc gia nhỏ bé, là một triển khai không được tường trình và phân tích đầy đủ trong kỷ nguyên quân đội hậu-dân-chủ. Đó là đội quân nay đã trở thành một lực lượng chính quy sắp tới trong cuộc chiến chống khủng bố từ Iraq đến Afghanistan, Syria đến Cameroon, Libya đến Somalia.

 

Như Gregory Foster, một cựu chiến binh Việt Nam và giáo sư tại Đại Học Quốc Phòng, gần đây đã ghi nhận: lực-lượng-nay-lớn-lao nầy “cung ứng một không gian tiềm năng gần như vô giới hạn cho nhu cầu can thiệp và các sứ mệnh lan tỏa ở hải ngoại và quốc nội, một phần do những đường ranh ngày một mờ nhạt giữa quân đội, tình báo, cảnh sát, và các chức năng an ninh quốc nội … Bản chất chính yếu của các sứ mệnh [hành quân đặc biệt] dung dưỡng một văn hóa quân sự đặc biệt tai họa đối với trách nhiệm và phạm vi trách nhiệm thích ứng… sức cám dỗ sử dụng các lực lượng có thể lẩn tránh giám sát không phải đối kháng hầu như khó lòng cưởng lại.”

 

Giống như các tu sĩ dòng Tên [Jesuit], vào đầu thế kỷ XVI, đã xung đột với giáo hội Tin Lành và truyền bá  đạo Thiên Chúa từ Âu Châu và Á Châu  ra khắp mọi  nơi trong Tân Thế Giới, SOCOM ngày nay đang phát động chiến tranh chống khủng bố trên toàn cầu trong khi phát huy chính sách ngoại giao  và theo đuổi các mục tiêu doanh thương  trong ít ra 150 quốc gia. Thực vậy, lãnh đạo SOCOM, Tướng Joseph Votel III, tốt nghiệp West Point và Army Ranger, đã nói rõ khi tuyên bố “một thời đại hoàng kim đối với các cuộc hành quân đặc biệt.”

 

Một lực lượng quân sự,  trong thực tế không chịu trách nhiệm trước nhân dân, đang xé nát cơ cấu Hiến Pháp — pháp chế cơ bản  trao quyền kiểm soát quân đội một cách chặt chẻ và trọn vẹn cho Quốc Hội, hành động thay mặt toàn dân. Phối hợp một đội quân như thế với một chuổi các cuộc chiến không tuyên chiến và các xung đột khác, và một Quốc Hội, để hoan hô, không để kiểm soát,  làm nhật lệnh,  và bạn đang có một công thức hành động dành cho một lực lượng chỉ quan tâm đến chính bản thân.

 

Người ta thường mô tả Prussia như một quân đội với một nhà nước đính kèm. Quân-đội-hậu-dân-chủ của Hoa Kỳ, phối hợp với nhiều cơ quan tình báo và sự lớn mạnh của một bộ quốc phòng thứ hai, Bộ An Ninh Quốc Nội, có thể ngày một được xem như một chủ thể giống như một tiểu-bang-mẫu đang ló dạng [an emerging proto-state]. Gọi đó là bang thứ 51 của Hoa Kỳ — ngoại trừ:  thay vì có hai nghị sĩ Thượng Viện và một số dân biểu căn cứ trên kích cỡ, tiểu bang nầy có tất cả các nghị sĩ Thượng Viện và dân biểu cơ sở trên quyền lực, ngân sách, và nắm vững  văn hóa Hoa Kỳ.

 

Nói một cách khác, đó là một quái vật khổng lồ  hậu-dân-chủ  cần được quan tâm.

Tiên đoán cho tháng 11:  một thắng lợi lớn lao khác tại phòng phiếu cho tiểu bang thứ 51  của Hoa Kỳ!

 

Nguyễn Trường

10-4-2016

Irvine, California, U.S.A.

 

Chú Thích: Bài viết hoàn toàn dựa trên tư liệu của sử gia William Astore, Trung Tá Không Quân hưu trí và Giáo Sư dạy môn Sử.

 

 

 

Advertisements