HỘI NGHỊ DOHA TAN VỠ VÀ TRẬT TỰ DẦU LỬA LÂU ĐỜI ĐANG LÂM NGUY

 

Chủ nhật, 17-4-2016, là thời khắc chọn lựa. Các nhà sản xuất dầu lửa hàng đầu đươc chờ đợi mang lại kỷ luật mới cho thị trường dầu lửa hỗn độn và khởi động sự trở lại của mực giá cao. Họp mặt ở Doha, thủ đô chói lọi ánh sáng của Qatar giàu năng lượng, các bộ trưởng dầu lửa của Tổ Chức Các Quốc Gia Xuất Khẩu Dầu Lửa [Organization of the Petroleum Exporting Countries — OPEC], cùng với các xứ sản xuất nòng cốt ngoài OPEC như  Nga và Mexico, đã được triệu tập, để duyệt y một dự thảo thỏa ước tự nguyện đóng băng các ngạch số dầu sản xuất của chính mình ở mức hiện hữu. Tiên liệu một thỏa ước như thế, giá dầu đã bắt đầu gia tăng, từ 30 USD một thùng [barrel] vào giữa tháng 1-2016 lên 43 USD vào hôm trước ngày khai mạc hội nghị. Nhưng trật tự dầu lửa trước đây còn lâu mới có thể vãn hồi và hội nghị đã chấm dứt trong chia rẽ, đẩy giá dầu xuống trở lại cùng lúc phơi bày các rạn nứt sâu đậm trong hàng ngũ các xứ sản xuất năng lượng trên toàn cầu.

Tác động của sự đỗ vỡ ở Doha thật khó lòng phóng đại hay quan trọng hóa.

Chí  ít, với sự thất bại, giá dầu ở mức thấp gây khó khăn cho kỹ nghệ dầu lửa trong hai năm qua sẽ kéo dài bất tận, xô đẩy các xí nghiệp bé nhỏ vào vòng phá sản, và làm tiêu tan hàng trăm tỉ mỹ kim đầu tư vào các khả năng sản xuất mới.

Sự đỗ vỡ cũng có thể xóa tan mọi viễn ảnh hợp tác trong tương lai giữa các xứ  OPEC và ngoài OPEC và trong nỗ lực điều hòa thị trường. Tuy nhiên, quan trọng hơn cả, thất  bại cũng đã chứng tỏ thế giới lệ thuộc vào dầu lửa như chúng ta từng thấy trong các thập kỷ vừa qua — với số cầu dầu lửa luôn tăng nhanh hơn số cung và đã đem lại lơi nhuận vững chắc cho tất cả các quốc gia sản xuất quan trọng hàng đầu —  không còn nữa. Thay vào đó, một số cầu dầu lửa yếu đuối, rất có thể ngay cả sụt giảm, có nhiều cơ may bó buộc các xứ sản xuất hay cung cấp cạnh tranh và giành giựt để chiếm một thị phần ngày một tiệm giảm.

CON ĐƯỜNG ĐẾN DOHA

Trước hội nghị Doha, lãnh đạo các quốc gia sản xuất quan trọng đã bày tỏ lòng tin đóng băng ngạch số sản xuất cuối cùng cũng có thể chận đứng sự suy sụp giá dầu tai họa đã bắt đầu từ giữa năm 2014. Đa Số các xứ nầy đang lệ thuộc nặng nề vào số thu nhập nhờ ở khả năng xuất khẩu dầu, để tài trợ các chi tiêu của chính quyền và ngăn ngừa nguy cơ gây rối loạn của quần chúng.

Liên Bang Nga và Venezuela, chẳng hạn, đang trông cậy vào khả năng xuất khẩu năng lượng thu về  khoảng 50% lợi tức của chính quyền, trong khi Nigeria còn có thể lệ thuộc đến 75%. Vì vậy, sự sụp đổ trong giá dầu đã đưa đến những cắt xén sâu đậm trong số chi của chính quyền trên thế giới, gây bất ổn định, và trong vài trường hợp, ngay cả rối loạn chính trị.

Không ai đã chờ đợi hội nghị 17-4-2016 sẽ đem lại một gia tăng trong giá dầu tức thì và lớn lao, nhưng mọi người đều hy vọng hội nghị có thể đặt nền móng cho một gia tăng lâu dài trong những tháng sắp đến.

Cấp lãnh đạo các xứ nầy đã hiểu rõ một điều: muốn đạt được một tiến bộ như thế, nhất trí hay hợp tác là luôn thiết yếu. Nếu không, họ khó thể vượt qua các yếu tố đã gây ra sự sụp đổ giá cả như đã từng chứng kiến. Một số yếu tố nầy mang tính cơ cấu và bám trụ ngay trong phương cách tổ chức kỹ nghệ; một số khác là sản phẩm của các phương cách đáp ứng thiếu trách nhiệm hay vô hiệu quả trước cuộc khủng hoảng.

Trên bình diện cơ cấu, số cầu năng lượng toàn cầu, trong những năm gần đây, đã ngưng gia tăng đủ nhanh để bắt kịp tất cả số dầu thô rót vào thị trường, một phần do số cung mới từ Iraq và đặc biệt là từ các khu vực khai thác dầu đá phiến ngày một rộng lớn của Hoa Kỳ. Số cung thặng dư nầy đã gây ra đợt sụt giá sơ khởi năm 2014 khi dầu thô Brent sụt giảm từ 115 USD ngày 19-6-2014 xuống còn 77 USD vào ngày 26-11 cùng năm, ngay trước ngày “hội nghị định mệnh OPEC”  ở Vienna. Ngay ngày hôm sau, các quốc gia thành viên OPEC, dẫn đầu bởi Saudi Arabia, đã không đạt được thỏa thuận hoặc cắt giảm hoặc đóng băng sản ngạch, và từ đó giá dầu đã liên tục sụt giảm.

Sự tan vỡ của hội nghị trong tháng 11 phần lớn đã được quy trách cho ước muốn của Saudi chận đứng mọi gia tăng sản ngạch của các xứ sản xuất dầu lửa khác — đặc biệt là dầu đá phiến của Hoa Kỳ — và hồi phục địa vị áp đảo lịch sử trên thị trường năng lượng toàn cầu của Saudi. Nhiều nhà phân tích cũng tin Riyadh đang tìm cách trừng phạt các quốc gia cạnh tranh cấp vùng, Iran và Nga —  hai quốc gia hậu thuẩn chế độ Assad ở Syria, một lãnh đạo Saudis muốn lật đổ.

Nói một cách khác, sự loại bỏ là quyết định thành đạt cùng lúc hai mục tiêu: làm nãn lòng hay quét sạch thách thức bởi các nhà sản xuất dầu đá phiến Bắc Mỹ và phá hoại hay làm suy yếu các cường quốc năng lượng kinh tế đang lung lay chống đối các mục tiêu của Saudi trong vùng Trung Đông qua nỗ lực tước đoạt số thu nhập thiết yếu từ dầu lửa. Vì Saudi Arabia có thể sản xuất dầu rẻ hơn các xứ khác rất nhiều — chỉ khoảng 3 USD mỗi thùng — và vì Saudi có thể sử dụng hàng trăm tỉ mỹ kim trong các quỹ nhà nước [sovereign wealth funds] để bù vào các khiếm hụt ngân sách,  cấp lãnh đạo vững tin họ có đủ khả năng đối phó với bất cứ sụt giảm giá dầu nào,  so với các xứ cạnh tranh khác.

Tuy nhiên,  ngày nay sự tiên đoán lạc quan đó ngày một ảm đạm hơn khi hoàng gia Saudi bắt đầu cảm nhận những khó khăn chật vật do giá dầu ngày một sụt giảm, và buộc lòng phải cắt xén các phúc lợi trước đây đã dành cho số quần chúng ương ngạnh trong khi còn phải tài trợ cuộc chiến ngày một tốn kém, dai dẳng, và tai họa, ở Yemen.

Nhiều nhà phân tích năng lượng ngày một tin chắc: Doha có thể phải chứng tỏ thời khắc quyết định khi Riyadh cuối cùng sẽ phải chấp nhận đóng băng ngạch số sản xuất. Chỉ vài ngày trước hội nghị, các quốc gia tham dự đã tỏ ra tin tưởng nhiều hơn:  một kế hoạch như thế có thể được chấp thuận. Xét cho cùng, các thương thảo sơ khởi giữa Nga, Venezuela, Qatar, và Saudi Arabia đã đưa đến một dự thảo tài liệu phần lớn các tham dự viên đang sẵn sàng để  ký duyệt. Chỉ còn một điểm dây dưa duy nhất: bản chất của sự tham dự của Iran.

Trong thực tế,  Iran đang sẵn sàng chấp thuận giải pháp đóng băng, nhưng chỉ sau khi  được phép duy trì sản ngạch hàng ngày tương đối khiêm tốn ở mức đã đạt được trong năm 2012 trước khi Tây Phương áp đặt các chế tài trong một nỗ lực buộc Tehran phải đồng ý gở bỏ chương trình làm giàu nguyên tử. Ngày nay, các chế tài đó, trong thực tế, đang được tháo gở do kết quả của thỏa ước nguyên tử vừa được ký kết gần đây, Tehran đang quyết tâm phục hồi hiện trạng ngày trước — status quo ante. Về điểm nầy, Saudis lại chối từ, vì không muốn thấy đối phương của mình đạt thêm thu nhập từ năng lượng. Tuy vậy, các quan sát viên cuối cùng vẫn giả thiết Riyadh có thể đồng ý một phương thức cho phép Iran vài  gia tăng trước khi đóng băng. Như Nawal  Al-Fuzaia, đại diện OPEC của Kuwait đã nói, phản ảnh quan điểm của các tham dự viên Doha khác, “có nhiều dấu hiệu tích cực một thỏa ước sẽ đạt được trong hội nghị nầy…một thỏa thuận sơ khởi trên sản ngạch đóng băng.”[1]

Nhưng rồi một diều gì đó đã xẩy ra. Theo những người am tường với chuổi các biến cố, Deputy Crown Prince của Saudi Arabia và chiến lược gia nòng cốt,  Mohammed bin Salman, đã gọi điện cho phái đoàn Saudi ở Doha lúc 3 giờ sáng ngày 17-4 và chỉ thị cho họ phải bác bỏ bất cứ thỏa ước dành bất cứ dễ dàng nào cho Iran. Khi người Iran — đã quyết định không tham dự buổi họp —  chứng tỏ chỉ dấu họ không có ý định đóng băng sản ngạch để thỏa mãn các xứ cạnh tranh với họ, người Saudis đã bác bỏ dự thảo thỏa ước họ đã giúp thương thảo và hội nghị đã chấm dứt trong xáo trộn.

ĐỊA CHÍNH TRỊ NỔI TRỘI

Hầu hết các phân tích gia từ đó đã luôn gợi ý: hoàng gia Saudi đã đơn thuần xem trừng phạt Iran quan trọng hơn cả nâng cao giá dầu. Nói một cách khác, mặc dù phải trả giá cao và tốn kém, Saudi không thể giúp Iran theo đuổi các đối tượng địa chính trị của họ, kể cả hậu thuẩn nhiều hơn cho các lực lượng Shiite ở Iraq, Yemen, và Lebanon. Đã cảm nhận bị sức ép của Tehran và ngày một thiếu tin tưởng vào hậu thuẩn của Hoa Thịnh Đốn, Saudi Arabia vẫn sẵn sàng sử dụng bất cứ phương tiện khả dụng nào để làm suy yếu Iran, bất chấp các nguy cơ cho chính mình.

Theo Jason Bordoff, thuộc Trung Tâm Chính Sách Năng Lượng Toàn Cầu tại Columbia University, “Sự thất bại đạt một thỏa ước ở Doha là một nhắc nhở: Saudi Arabia không chút sẵn sàng dành một đặc ân nào cho Iran, và xung đột địa chính trị đang tiếp diễn của họ là một yếu tố trong chính sách dầu lửa hiện nay của Saudi không thể tiết giảm.”[2]

Nhiều nhà phân tích cũng đã lưu ý đến ảnh hưởng đang lên của Deputy Crown Prince Mohammed bin Salman, được King Salman, vua cha già yếu, giao phó toàn quyền kiểm soát kinh tế và quân sự. Như  Bộ Trưởng Quốc Phòng, hoàng tử đã chĩa mũi nhọn vận động vào  mục tiêu chống đối người Iran trong cuộc đấu tranh giành vai trò áp đảo cấp vùng. Nhiều ý nghĩa hơn nữa, hoàng tử là lực lượng chính yếu bên sau chiến dịch can thiệp đang tiếp diễn của Saudi Arabia vào Yemen, nhằm đánh bại phe phiến loạn Houthi, một nhóm phần lớn Shia liên kết lõng lẻo với Iran, và phục hồi nguyên tổng thống Abd Rabbuh Mansur Hadi đã bị lật đổ trước đây. Sau một năm không tạc với sự yểm trợ của Hoa Kỳ [kể cả sử dụng bom chùm], trong thực tế, sự can thiệp của Saudi đã thất bại trong mọi đối tượng theo đuổi, mặc dù đã gây thương vong cho hàng nghìn thường dân, đưa đến lời buộc tội mạnh mẽ từ các quan chức Liên Hiệp Quốc, và đã tạo dựng không gian cho sự trỗi dậy của al-Qaeda trong Bán Đảo Á Rập. Tuy vậy, hoàng tử Salman hình như vẫn quyết chí tiếp tục cuộc xung đột và chống lại ảnh hưởng của Iran trong toàn vùng.

Đối với Prince Mohammed, thị trường dầu lửa rõ ràng đã trở thành một đấu trường khác cho cuộc đấu tranh đang tiếp diễn. Tờ Financial Times đã ghi nhận trong tháng 4-2016, “dưới sự hướng dẫn của Prince Mohammed, chính sách dầu lửa của Saudi Arabia rõ ràng ít bị chi phối bởi giá dầu thô hơn là chính trị toàn cầu, đặc biệt là sự ganh đua chua chát của Riyadh với Tehran hậu-chế-tài.”[3]

Điều nầy hình như đã là câu chuyện bên sau quyết định phút chót phá hoại hội nghị Doha. Vào ngày 16-4, chẳng hạn, Hoàng tử Mahammed, không thể nào trắng trợn hơn đối với Bloomberg, ngay cả nếu ông đã  không gọi tên người Iran : “Nếu tất cả các quốc gia sản xuất quan trọng không đóng băng sản xuất , chúng tôi cũng sẽ không đóng băng sản xuất.”[4]

Với thỏa ước đề nghị đang tơi tả, Saudi Arabia giờ đây được chờ đợi gia tăng sản lượng riêng của mình, cầm chắc giá cả sẽ luôn ở mức thấp-tận-đáy, và do đó, sẽ khiến Iran đánh mất bất cứ ơn trời nào từ một gia tăng chờ đợi trong số dầu xuất khẩu. Hoàng tử Mohammed đã nói với Bloomberg, vương quốc đã chuẩn bị gia tăng  sản ngạch từ 10,2 triệu barrels mỗi ngày lên 11,5 triệu barrels, và có thể thêm một triệu thùng khác “nếu chúng tôi muốn” trong vòng từ 6 đến 9 tháng tới. Với số dầu Iran và Iraq tung ra thị trường trong những số lượng ngày một lớn lao, đó là định nghĩa của số cung quá lạm. Tình trạng nầy chắc chắn sẽ tiếp tục bảo đảm địa vị áp đảo thị trườngcủa Saudi Arabia, nhưng đồng thời cũng có thể gây tổn thương cho vương quốc một cách lớn lao, nếu không phải tai họa.

MỘT THỰC TẾ TOÀN CẦU MỚI

Đã hẳn, địa chính trị giữ một vai trò quan trọng trong quyết định của Saudi Arabia, nhưng đó chưa hẳn là toàn bộ câu chuyện. Những cuộc thảo luận làm lu mờ một đóng băng sản lượng khả dĩ là một sự kiện mới của đời sống đối với kỹ nghệ dầu  lửa: quá khứ có thể không phải là một tiên đoán của tương lai khi nói đến số cầu dầu lửa toàn cầu. Dù cho người Saudi nghĩ về người Iran hay ngược lại ra sao chăng nữa, kỹ nghệ của họ cũng đang biến thể một cách sâu xa, làm thay đổi các quan hệ giữa các nhà sản xuất quan trọng và xói mòn khuynh hướng hợp tác giữa họ.

Cho đến một ngày rất gần đây, người ta thường giả thiết số cầu dầu lửa có thể tiếp tục bành trướng bất tận, tạo không gian cho nhiều nhà sản xuất nhảy vào thị trường, và cho những ai đã hiện diện trong đó tăng gia ngạch số sản xuất của chính họ. Ngay cả khi số cung đã vượt quá số cầu và đẩy mức giá xuống thấp, như thỉnh thoảng đã thường xẩy ra, các nhà sản xuất luôn có thể tự an ủi khi biết: cũng như trong quá khứ, cầu rồi ra có thể gia tăng, do đó, giá dầu rồi cũng tăng cao trở lại. Trong những trường hợp như vậy, và vào  lúc đó, một điều hợp lý đối với cá nhân các nhà sản xuất là tìm cách hợp tác để giảm bớt sản lượng, hiểu rõ sớm muộn gì mọi người cũng đều có thể hưởng lợi từ giá cả chắc chắn sẽ gia tăng.

Nhưng điều gì sẽ xẩy ra nếu lòng tin vào “số cầu rồi ra có thể gia tăng” bắt đầu suy yếu dần?  Lúc đó động lực hợp tác cũng bắt đầu tan biến, và cũng là lúc các nhà sản xuất ai cũng phải lo cho riêng mình, trong một “cuộc đua tranh giành và bảo vệ thị phần”. Thực tế mới nầy — một thế giới trong đó “cầu dầu ở đỉnh điểm,” [“peak oil  demand”] hơn là “cung dầu ở đỉnh điểm,” [“peak oil”]— sẽ uốn nắn ý thức của các tay chơi lớn — là những gì tai họa Doha đã báo trước.

Vào đầu thế kỷ XXI, nhiều nhà phân tích năng lượng tin: chúng ta đang trên bờ điểm đến của “peak oil” — một đỉnh điểm, — có nghĩa, trong số sản xuất hay sản lượng dầu lửa trong đó các trữ lượng trên hành tinh có thể cạn kiệt trước khi số cầu dầu lửa tan biến — khởi động một khủng hoảng kinh tế toàn cầu.

Tuy nhiên, như một kết quả của tiến bộ trong các kỹ thuật khoan dầu, số cung dầu đã tiếp tục gia tăng, trong khi số cầu đột nhiên bắt đầu ngưng trệ. Tình trạng nầy có thể do đà tăng trưởng kinh tế toàn cầu đang chậm hay khựng lại cùng lúc do cuộc “cách mạng xanh” đang tăng tốc trong đó hành tinh sẽ chuyển tiếp qua các nguồn nhiên liệu phi hóa thạch [non-carbon fuel sources]. Với hầu hết các quốc gia ngày nay đang cam kết sử dụng các biện pháp nhằm tiết giảm khí thải nhà kính trong bối cảnh thỏa ước khí hậu Paris mới ký kết –” just-signed Paris climate accord,” số cầu dầu lửa có thể trải nghiệm những sụt giảm đầy ý nghĩa trong những năm trước mặt. Nói một cách khác, cầu dầu lửa toàn cầu sẽ lên đỉnh điểm lâu dài trước khi cung bắt đầu sụt giảm, tạo ra một thách thức vĩ đại đối với các quốc gia sản xuất dầu.

Đây không phải chỉ là một kiến trúc lý thuyết. Đây chính là thực tế. Tiêu thụ dầu lửa thuần trong các xứ kỹ nghệ hóa tiền tiến đã sụt giảm từ 50 triệu barrels mỗi ngày trong năm 2005 xuống còn 45 triệu barrels trong năm 2014. Và còn sụt giảm nhiều hơn nữa khi: tiêu chuẩn hiệu quả nhiên liệu ngày một khắt khe hơn đối với kỹ nghệ  sản xuất các loại xe hơi mới; các biện pháp liên quan đến khí hậu khác bắt đầu được thực thi; giá cả năng lượng mặt trời và gió tiếp tục sụt giảm; và các nguồn nhiên liệu thay thế khác đi vào hoạt động.Trong lúc số cầu dầu lửa vẫn còn tiếp tục gia tăng trong các xứ đang phát triển, ngay cả ở đây cũng vẫn không gia tăng theo tỉ suất trước đây đã được xem như bình thường. Với các xứ nầy cũng bắt đầu áp đặt các giới hạn khí thải carbon, tiêu thụ toàn cầu được chờ đợi lên đỉnh điểm và bắt đầu giảm sụt. Theo các chuyên gia Thijs Van de Graaf và Aviel Verbruggen, tổng số cầu đỉnh điểm của thế giới nói chung có thể đến sớm hơn vào năm 2020.

Trong một thế giới như thế, các nhà sản xuất dầu với giá thành cao sẽ bị loại khỏi thị trường và lợi điểm sẽ thuộc về giới sản xuất với giá thành thấp nhất. Các xứ lệ thuộc vào xuất khẩu dầu lửa trong một bách phân lớn lao của tổng thu nhập sẽ chịu áp lực ngày một gia tăng phải giảm thiểu trình độ lệ thuộc quá đáng vào dầu lửa. Điều nầy có thể đã được cứu xét trong quyết định của người Saudi ở Doha. Trong những tháng trước hội nghị vào tháng 4-2016, các quan chức Saudi cao cấp đã đưa ra chỉ dấu họ đã bắt đầu hoạch định cho “kỷ nguyên hậu-dầu-lửa” và Deputy Crown Prince bin Salman có thể giữ vai trò nòng cốt giàám sát thời kỳ chuyển tiếp.

Vào ngày 1-4, chính Thái Tử đã cho thấy các bước đầu đã được thể hiện để khởi động quá trình. Như một phần của nổ lực, Thái tử đã loan báo, ông đang hoạch định khởi sự cổ phần hóa công ty quốc doanh Saudi Aramco, Công Ty Dầu Lửa Số Một của thế giới, và chuyển các số thu nhập, ước tính khoảng 2.000 tỉ USD vào Quỹ Đầu Tư Công — Public Investment Fund [PIF]. Thái Tử cho biết: “Cổ Phần Hóa Aramco và chuyển các cổ phần nầy vào PIF, trên bình diện kỷ thuật, là sẽ sử dụng đầu tư như nguồn thu nhập của chính quyền Saudi, không phải dầu lửa. Những gì còn lại hiện nay là đa dạng hóa các quyết định đầu tư. Vì vậy, nội trong vòng 20 năm, chúng tôi sẽ là một nền kinh tế hay nhà nước không còn lệ thuộc chính yếu vào dầu lửa.”[5]

Đối với một xứ, hơn bất cứ xứ nào khác, đã cơ sở tài phú và quyền lực trên việc sản xuất và xuất khẩu dầu lửa, đây là một lời tuyên bố mang tính cách mạng. Nếu Saudi Arabia nói,  họ đã sẵn sàng bắt đầu động thái chuyển dịch ra khỏi sự lệ thuộc vào dầu lửa, quả thật chúng ta đang đi vào một thế giới mới, trong đó, trong nhiều điều khác, những nhà sản xuất dầu lửa phi thường — the titans of oil production — không còn tác động lên đời sống của chúng ta như họ đã từng làm như vậy trong quá khứ.

Trong thực tế, điều nầy có vẻ chứng tỏ phương cách nhìn đời Thái Tử Mohammed đã lựa chọn sau sự đổ vỡ ở Doha. Khi loan báo lên kế hoạch kinh tế mới của vương quốc, vào ngày 25-4-2016, Thái Tử, đã cam kết hay tuyên thệ, sẽ giải phóng xứ sở của ông khỏi “bệnh ghiền dầu lửa.” Đã hẳn, điều nầy không dễ gì thành đạt, trước sự lệ thuộc nặng nề của vương quốc vào số thu nhập từ dầu lửa và thiếu vắng những biện pháp thay thế đáng tin cậy khác. Thái Tử 30 tuổi đời cũng có thể phải đối mặt với sự chống đối từ bên trong nội bộ hoàng gia trước các động thái can đảm của ông [cũng như các động thái sai lầm ở Yemen và có thể ở nhiều nơi khác]. Tuy nhiên, mặc dù mệnh số của hoàng gia là gì chăng nữa, nếu các tiên đoán một đỉnh điểm tương lai trong số cầu dầu lửa của thế giới chứng tỏ chính xác, sự đổ vỡ ở Doha sẽ được xem như đánh dấu “điểm khởi đầu của chung cuộc” của một trật tự dầu lửa đã lâu đời.

 

 

Nguyễn Trường

Irvine, California, USA

08-5-2016

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

[1] “There are positive indications an agreement will be reached during this meeting…an initial agreement on freezing production.”

[2] “The failure to reach an agreement in Doha is a reminder that Saudi Arabia is in no mood to do Iran any favors right now and that their ongoing  geopolitical conflict cannot be discounted as an element of the current Saudi oil policy”.

[3] “Under Prince Mohammed’s guidance, Saudi Arabia’s oil policy appears to be less driven by the price of crude  [oil] than global politics, particularly Riyadh’s bitter rivalry with post-sanctions Tehran.”

[4] “If all major producers don’t freeze production, we will not freeze production.”

 

[5]  “IPOing Aramco and transferring its shares to PIF will technically make investments the source of Saudi government revenue, not oil. What is left now is to diversify investments. So within 20 years, we will be an economy or state that doesn’t depend mainly on oil.”

Advertisements