THẾ GIỚI MỘT SIÊU CƯỜNG VÀ CÁC THỬ THÁCH

Khi hỏi “Ai đang ngự trị thế giới?, chúng ta thường chấp nhận quy ước chuẫn: các tay chơi địa-kinh tế-chính trị-thế giới là các quốc gia, nhất là các đại cường, và chúng ta sẽ rà soát kiểm tra các quyết định của họ và các quan hệ giữa họ với nhau. Điều đó không sai. Nhưng chúng ta cũng nên nhớ mức độ trừu tượng nầy cũng vẫn có khả năng sai lầm lớn.

Các Nhà Nước đã hẳn có những cơ cấu đối nội phức tạp, và các lựa chọn và quyết định của giới lãnh đạo chính trị cũng bị ảnh hưởng nặng nề bởi khuynh hướng tập trung quyền lực đối nội, trong khi quần chúng nói chung thường bị xếp qua một bên. Tình trạng nầy khá trung thực, ngay cả đối với các xã hội được biết đã có một truyền thống dân chủ cao độ, và cố nhiên đối với đa số các xã hội khác.

Chúng ta cũng không thể đạt đến một trình độ hiểu biết thiết thực về những ai đang ngự trị thế giới trong khi không lưu ý đến “các chủ nhân ông của nhân loại,” [như Adam Smith đã gọi]: Thời đó, là các lái buôn và các nhà sản xuất ở Anh Quốc;  Thời nay, là các tập đoàn đa quốc gia, các định chế tài chánh khổng lồ, các đế quốc buôn bán lẻ, và những thành phần tương tự khác.

Vẫn theo Adam Smith, khi khôn ngoan thêm chút ít, chúng ta có thể lưu tâm đến “phương châm xấu xa”[“vile maxim”] các “chủ nhân ông nhân loại”[“masters of mankind”] luôn đeo đuổi:“Tất cả cho chúng ta và chẳng có gì dành cho kẻ khác”[1]– một chủ thuyết được biết một cách khác như chiến tranh giai cấp chua chát và không ngừng, thường đơn phương,  và rất tai hại cho quần chúng trong nội bộ quốc gia và trên thế giới.

Trong trật tự toàn cầu đương đại, các định chế của các chủ nhân ông nắm trọn quyền hành khổng lồ, không những trên sân chơi quốc tế mà còn ngay trong nội bộ quốc gia của chính họ, những xứ họ nương tựa để bảo vệ quyền lực của chính mình và tự cung cấp hậu thuẩn kinh tế qua nhiều phương tiện rộng lớn khác.

Khi xét đến vai trò các chủ nhân ông của nhân loại, chúng ta luôn trở về các ưu tiên trong chính sách nhà nước hiện hữu, như Đối Tác Xuyên Thái Bình Dương hay Trans-Pacific Partnership [TPP], một trong những thỏa ước “quyền-hạn của giới đầu-tư,” mang nhãn hiệu sai lầm là “các thỏa ước mậu dịch tự do” [“free-trade agreements”] trong các guồng máy tuyên truyền và bình luận.

Những thỏa ước nầy được thương thảo bí mật, bên ngoài hàng trăm “luật gia các đại công ty và vận động hành lang” giữ trách nhiệm bổ túc các chi tiết cốt lõi. Mục tiêu là để được”chấp thuận theo phương cách Stalinist tốt đẹp với các “thủ tục nhanh chóng” [“fast track”], được thiết kế để chận đứng mọi thảo luận và chỉ cho phép lựa chọn hoặc “yes” hoặc “no” [thông thường là yes].

Do đó, chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi các nhà thiết kế thường luôn thành công. Và quần chúng chỉ giữ vai trò bàng quan, với hậu quả mọi người đều có thể tiên đoán.

SIÊU CƯỜNG THỨ HAI

Các chương trình tân tự do của thế hệ trước đã tập trung tài phú và quyền lực vào tay quá ít người, cùng lúc đã xói mòn xã hội dân chủ đang hoạt động, nhưng cũng đã đánh thức sức chống đối, rõ ràng nhất là ở  Mỹ Latin, và ngay cả trong các trung tâm quyền lực toàn cầu.

Liên Hiệp Âu Châu [EU], một trong số những định chế hay chủ thể nhiều hứa hẹn  trong kỷ nguyên hậu-Đệ-Nhị-Thế-Chiến, cũng đang lung lay bởi các tác động cay nghiệt của các chính sách kiệm ước trong giảm phát, bị lên án ngay cả bởi các kinh tế gia của Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế [nếu không phải các thành phần chính trị của IMF]. Dân chủ đã bị suy yếu khi quyền quyết định đã chuyển qua tầng lớp thư lại ở Brussels, với các ngân hàng phương Bắc lấn át các hành động của họ.

Các đảng phái dòng chính đã nhanh chóng đánh mất hậu thuẩn cho phe tả và phe hữu. Giám Đốc điều hành của nhóm nghiên cứu có trụ sở ở Paris, EuropaNova, quy trách quá trình đánh mất ảo mộng chung cho “một tâm trạng bất lực giận dữ khi quyền lực thực sự  định hình các biến cố phần lớn đã dịch chuyển từ các lãnh đạo chính trị quốc gia [những vị, ít ra trên nguyên tắc, đang chịu sự chi phối bởi chính trị dân chủ] đến thị trường, những định chế của Liên Hiệp Âu Châu và các đại công ty,” hoàn toàn đúng theo chủ thuyết tân tự do.

Nhiều quá trình tương tự cũng đang diễn ra ở Hoa Kỳ, vì những lý do ít nhiều tương tự, một vấn đề có nhiều ý nghĩa và đáng quan tâm chẳng những cho nước Mỹ, nhưng qua trung gian quyền lực của Mỹ, cho cả thế giới.

Sự chống đối ngày một gia tăng trước sự tấn công của phe tân tự do đang làm nổi bật một khía cạnh cốt yếu khác của quy ước chuẫn: đẩy quần chúng qua một bên — một quần chúng thường không chấp nhận vai trò quan sát viên được chấp thuận [hơn là tham dự viên] trong lý thuyết dân chủ tự do. Thái độ thiếu vâng lời hay bất tuân thủ như thế đã gây âu lo cho các tầng lớp thống trị. Chỉ cần nhắc lại lịch sử Hoa Kỳ, George Washington đã xem người dân thường, những dân binh do ông ta chỉ huy hay tư lệnh như  “những thành phần quá nhơ nhuốc và tục tĩu, [chứng tỏ] một thứ vô trách nhiệm và xuẩn ngốc trong tầng lớp quần chúng thấp hèn.”

Trong “Chính Trị Bạo Động” [Violent Politics], tác phẩm bậc thầy về dấy loạn từ “sự nổi dậy ở Mỹ” [“the American insurgency”] đến Afghanistan và Iraq đương đại, William Polk đã kết luận: Tướng Washington “nóng lòng đẩy ra bên lề [các dân quân ông khinh rẻ] đến độ ông đã suýt thất bại trong cuộc Cách Mạng.” Thực vậy, Washington “có thể đã làm như vậy trong thực tế ” nếu người Pháp không can thiệp mạnh mẽ và tiếp cứu cuộc Cách Mạng”, cuộc chiến cho đến lúc đó các dân quân — những thành phần ngày nay chúng ta có thể gọi là quân khủng bố — đã thắng thế trong khi quân đội theo-kiểu-người-Anh của Washington “đã nhiều lần bại trận và hầu như đã thua cuộc.”[2]

Một nét chung của dấy loạn thành công, Polk ghi nhận, là một khi hậu thuẩn của quần chúng đã giải thể sau chiến thắng, cấp lãnh đạo liền đàn áp “những dân quân dơ bẩn và tục tĩu,” những người, trong thực tế, đã thắng cuộc chiến với chiến thuật du kích và khủng bố, vì âu lo các lực lượng nầy có thể thách thức đặc quyền giai cấp của chính mình. Sự khinh rẻ dành cho “giai cấp thấp hèn trong quần chúng” đã khoác nhiều hình thức khác nhau qua nhiều năm tháng. Trong những năm gần đây, một biểu hiện thái độ khinh rẻ nầy là kêu gọi thụ động chờ đợi và vâng lời [tiết chế ôn hòa trong dân chủ] bởi các thành phần quốc tế tự do trước các tác động dân chủ hóa nguy hiểm của các phong trào bình dân trong thập kỷ 1960s.

Đôi khi Nhà Nước cũng chọn lựa đi theo ý kiến của đại chúng, gây nhiều giận dữ trong các trung tâm quyền lực. Một trường hợp gây ấn tượng sâu sắc trong năm 2003 khi chính quyền Bush kêu gọi Thổ Nhĩ Kỳ tham gia vào cuộc xâm lăng Iraq. 95% dân Thổ chống đối, và trước sự kinh ngạc và ghê tởm của Hoa Thịnh Đốn, chính quyền Thổ Nhĩ Kỳ đã chọn đứng về phía tối đaị đa số quần chúng. Và ngay tức khắc, Thổ Nhĩ Kỳ đã bị lên án gay gắt vì đã quyết định bác bỏ đòi hỏi của Bush. Thứ Trưởng Quốc Phòng Paul Wolfowitz, người được báo giới xem như cầm đầu phe lý tưởng của chính quyền [“idealist-in-chief  of the administration”], đã mắng mỏ và chỉ trích giới quân sự Thổ Nhĩ Kỳ vì đã cho phép hành động phi pháp của chính quyền Thổ,  và đòi hỏi phải xin lỗi. Không nao núng bởi các lời chỉ trích và vô số những hành vi thô lỗ khác của phe “thèm muốn dân chủ” [yearning for democracy] của người Mỹ, giới bình luận đáng kính vẫn tiếp tục ca ngợi Tổng Thống George W. Bush về thái độ nhiệt tình với “phát huy dân chủ” [“dedication to democracy promotion”], và đôi khi chỉ trích Bush về tính thơ ngây khi nghĩ một cường quốc bên ngoài có thể áp đặt ước muốn dân chủ của mình lên các xứ khác.

Quần chúng Thổ Nhĩ Kỳ không hề đơn độc. Phản ứng chống đối toàn cầu trước các hành động tấn công của Hoa Kỳ và Anh Quốc ngày một rộng khắp và lấn áp. Theo thăm dò công luận trên thế giới, hậu thuẩn đối với các kế hoạch chiến tranh của Hoa Thịnh Đốn hiếm khi đạt mức 10% bất cứ ở đâu. Phe chống đối đã khởi động các cuộc xuống đường rộng khắp trên thế giới, kể cả ở chính Hoa Kỳ. Có lẽ lần đầu tiên trong lịch sử, xâm lược của đế quốc đã bị chống đối mạnh mẽ ngay cả trước khi được chính thức phát động. Trên trang nhất báo The New York Times, nhà báo Patrick Tyler đã tường trình “có thể vẫn còn hai siêu cường trên hành tinh: Hoa Kỳ và công luận thế giới.”[3]

Làn sóng phản kháng biểu hiện sự chống đối các hình thức xâm lăng từ nhiều thập kỷ trước đây trong phong trào lên án lớn lao và mạnh mẽ cuộc chiến Việt Nam và Đông Dương của Mỹ, dù quá muộn màng. Đến năm 1967, khi phong trào phản chiến đã trở thành một lực lượng đáng kể, sử gia quân sự và chuyên gia về Việt Nam, Bernard Fall, đã cảnh cáo: “Việt Nam như một thực thể văn hóa và lịch sử …đang bị đe dọa diệt chủng …[khi] vùng nông thôn đơn thuần đang dẫy chết dưới những “cú đấm” của guồng máy quân sự lớn nhất chưa bao giờ hoành hành trên một diện tích vào cỡ đó.”[4]

Và phong trào phản chiến đã trở thành một lực lượng không thể không quan tâm và cũng không thể làm ngơ ngay từ khi Ronald Reagan lên làm tổng thống với quyết tâm phát động tấn công vào Trung Mỹ.

Chính quyền Reagan theo sát các bước đi của John F. Kennedy đã thể hiện 20 năm trước, khi phát động cuộc chiến chống lại Nam Việt Nam, nhưng đã phải lùi bước, vì lẽ loại công khai chống đối hùng tráng của công chúng, một hình thức chống đối thiếu vắng vào đầu thập kỷ 1960s. Cuộc tấn công khá đáng sợ. Các nạn nhân cho đến nay vẫn còn chưa phục hồi. Nhưng những gì đã xẩy ra cho Nam Việt Nam và sau nầy cho toàn Đông Dương, nơi “siêu cường thứ hai” đã chỉ áp đặt các chướng ngại vật trể hơn rất nhiều trong cuộc xung đột, là tàn tệ không thể so sánh.

Người ta thường đưa ra luận cứ sự chống đối lớn lao của quần chúng trước cuộc xâm lăng Iraq đã không có tác động. Điều nầy, theo Noam Chomsky, là sai lầm. Một lần nữa, cuộc xâm lăng rất đáng kinh tởm, và hậu quả của nó tuyệt đối thô bạo. Tuy nhiên, nó cũng đã có thể tồi tệ hơn xa. Phó Tổng Thống Dick Cheney, Bộ Trưởng Quốc Phòng Donald Rumsfeld, và số còn lại của các quan chức hàng đầu của Bush, đã không bao giờ ngay cả có thể chiêm nghiệm loại biện pháp Tổng Thống Kennedy và Tổng Thống Lyndon Johnson đã chấp nhận 40 năm trước đó,  phần lớn đã không gặp chống đối.

CƯỜNG QUỐC TÂY PHƯƠNG DƯỚI ÁP LỰC

Đã hẳn, còn có quá nhiều điều cần nói về các yếu tố trong quyết định chính sách nhà nước được gạt qua một bên khi chúng ta chấp nhận quy ước chuẫn các nhà nước là những diễn viên trong quốc tế sự vụ. Tuy nhiên,  với các cảnh cáo quan trọng như sau đây, dù sao chúng ta cũng hảy chấp nhận quy ước, ít ra như một bước đầu chuyển dịch đến gần với thực tại. Lúc đó, vần đề ai ngự trị thế giới lập tức dẫn tới các âu lo như sự trỗi dậy trong quyền lực của Trung Quốc và thử thách của hiện tượng nầy đối với Hoa Kỳ và “trật tự thế giới,” chiến tranh lanh mới đang âm ỉ ở Đông Âu, cuộc chiến toàn cầu chống khủng bố, bá quyền Hoa Kỳ và tuột dốc Hoa Kỳ, và nhiều thực trạng tương tự cần lưu tâm.

Các thử thách các đại cường Tây Phương phải đối mặt vào đầu năm 2016 đã được tóm tắt một cách hữu ích bên trong khuôn khổ quy ước bởi Gideon Rachman, bình luận gia trưởng ban ngoại vụ của tờ London Financial Times.

Rachman bắt đầu với việc xét duyệt bức tranh trật tự thế giới Tây Phương: “Kể từ ngày cuối của Chiến Tranh Lạnh, quyền lực nổi trội lấn át của phe quân sự Hoa Kỳ luôn là sự kiện trung tâm của chính trị quốc tế “. Thực tế nầy đặc biệt chính yếu trong ba vùng: (1)Đông Á, nơi Hải Quân Hoa Kỳ đã được sử dụng để biến Thái Bình Dương thành “hồ nước của Hoa Kỳ; (2) Âu Châu,  nơi NATO — có nghĩa Hoa Kỳ, quốc gia gánh vác 3/4 các chi tiêu quân sự [của NATO] — “bảo đảm toàn vẹn lãnh thổ cho các nhà nước thành viên”; và (3) Trung Đông, nơi các căn cứ không và hải quân khổng lồ của Hoa Kỳ hiện diện để trấn an các quốc gia bạn và dọa nạt các xứ cạnh tranh.”

Rachman nói tiếp, “Vấn đề trật tự thế giới ngày nay là ‘những an ninh trật tự nầy hiện đang bị thử thách trong cả ba vùng’, do sự can thiệp của Nga vào Ukraine và Syria, và do Trung Quốc đang chuyển biến các vùng biển lân cận từ hồ nước của Mỹ thành ‘vùng biển rõ ràng đang tranh chấp’.”Vấn đề cơ bản của quan hệ quốc tế , lúc đó, là liệu Hoa Kỳ ‘nên chấp thuận các đại cường khác cần có vài loại khu vực ảnh hưởng trong các khu vục láng giềng.’ Rachman nghĩ Hoa Kỳ nên chấp thuận, vì những lý do phân tán quyền lực kinh tế trên toàn thế giới — cũng như phối trí với tục thức đơn thuần. “[5]

Đã hẳn, luôn có nhiều phương cách nhìn thế giới từ nhiều quan điểm khác nhau. Nhưng chúng ta cứ hạn chế vào ba vùng nầy, chắc chắn đây là những vùng cực kỳ quan trọng.

NHỮNG THỬ THÁCH NGÀY NAY: ĐÔNG Á

Bắt đầu với “hồ nước của Mỹ,” vài người có thể cau mày khi nghe phúc trình vào giữa tháng 12-2015: “Một phản lực cơ B-52 của Mỹ, trong một phi vụ thường lệ trên Biển Nam Hải, đã vô tình bay bên trong hai hải lý gần một hải đảo nhân tạo do Trung Quốc xây dựng, theo các viên chức quốc phòng cao cấp, đã làm gia tăng đề tài chia rẽ nóng bỏng giữa Hoa Thịnh Đốn và Bắc Kinh.”

Những ai quen thuộc với sử liệu u ám của 70 năm trong kỷ nguyên vũ khí nguyên tử, đều hiểu đây là loại rắc rối tình cờ nhưng có thể dẫn đến tai nạn châm ngòi chiến tranh nguyên tử gây diệt vong tối nguy hiểm. Chúng ta không cần phải là một người hậu thuẩn các hành động tấn công gây hấn trong Biển Nam Hải để ghi nhận biến động không dính dáng gì đến một oanh tạc cơ có khả năng nguyên tử trong vùng biển Caribbean, hay ngoài khơi bờ biển California, nơi Trung Quốc không có tham vọng thiết lập một “hồ Trung Quốc”.” Thật là may mắn cho thế giới!

Các lãnh đạo Trung Quốc hiểu rất rõ các con đường giao thương hàng hải của xứ họ đang bị vây quanh bởi các cường quốc thù nghịch từ Nhật Bản xuyên qua Eo Biển Malacca và xa hơn nữa, yểm trợ bởi lực lượng quân sự vô cùng hùng mạnh của Hoa Kỳ. Vì vậy, Trung Quốc đang xúc tiến bành trướng về hướng Tây với các khoản đầu tư lớn lao và cẩn trọng tiến dần đến hội nhập. Một phần, các triển khai nầy đang diễn ra trong khuôn khổ của Tổ Chức Hợp Tác Thượng Hải [Shanghai Cooperation Organization –SCO], bao gồm các quốc gia Trung Á và Liên Bang Nga, và trong tương lai gần, Ấn Độ và Pakistan, với Iran như một trong số các quốc gia quan sát viên — một quy chế bị từ chối đối với Hoa Kỳ — siêu cường đã được yêu cầu đóng cửa tất cả các căn cứ quân sự trong vùng.

Trung Quốc đang xây dựng một dạng thức canh tân các con đường tơ lụa xưa cũ, với ý định không những hội nhập toàn vùng dưới ảnh hưởng của Trung Quốc, đồng thời cũng với tới Âu Châu và các vùng sản xuất dầu Trung Đông. Trung Quốc cũng rót rất nhiều tiền vào việc cấu tạo một hệ thống năng lượng và thương mãi Á Châu hội nhập, với các tuyến đường sắt cao tốc và các tuyến ống dẫn dầu và hơi đốt thiên nhiên trong khắp vùng.

Một yếu tố của chương trình là một xa lộ cao tốc xuyên qua vài dãy núi cao nhất thế giới đi đến hải cảng mới Gwadar ở Pakistan do chính Trung Quốc khai triển, xa lộ sẽ bảo vệ việc chuyên chở năng lượng trước tiềm năng can thiệp gây trở ngại của Hoa Kỳ. Trung Quốc và Pakistan hy vọng, chương trình cũng có thể khích lệ phát triển kỹ nghệ ở Pakistan, một điều Hoa Kỳ đã không quan tâm mặc dù viện trợ quân sự lớn lao, và có thể cung cấp động lực giúp Pakistan giới hạn khủng bố quốc nội, một đề tài nghiêm trọng đối với Trung Quốc trong tỉnh Tân Cương phía Tây. Gwadar sẽ là một phần của “dây chuyền ngọc trai” của Trung Quốc, những căn cứ đang được xây cất trong Ấn Độ Dương nhằm mục tiêu thương mãi nhưng cũng có tiềm năng sử dụng quân sự, với hy vọng Trung Quốc một ngày nào đó có thể có khả năng phóng chiếu quyền lực đến Vùng Vịnh Ba Tư lần đầu tiên trong kỷ nguyên hiện đại.

Tất cả các động thái nầy đều được miễn nhiễm đối với lực lượng quân sự áp đảo của Hoa Thịnh Đốn, ngoại trừ có thể bị triệt tiêu bởi chiến tranh nguyên tử — một  cuộc chiến cùng lúc cũng có thể triệt tiêu chính Hoa Kỳ.

Trong năm 2015, Trung Quốc cũng đã thiết lập Ngân Hàng Đầu Tư Hạ tầng Cơ Sở Á Châu [Asian Infrastructure Investment Bank — AIIB] với vai trò cổ đông chính. 56 quốc gia đã dự lễ khai trương trong tháng 6, kể cả Hoa Kỳ.  Các đồng minh của Hoa Kỳ, như Úc, Anh, và nhiều xứ khác, cũng đã tham gia, trái với ước muốn của Hoa Thịnh Đốn. Hoa Kỳ và Nhật đã vắng mặt. Vài nhà phân tích tin: ngân hàng mới có thể trở thành ngân hàng cạnh tranh với các định chế Bretton Woods [IMF và World Bank], trong đó Hoa Kỳ giữ quyền phủ quyết. Cũng có vài nhân vật chờ đợi SCO cũng rất có thể trở thành đối trọng của NATO.

NHỮNG THỬ THÁCH NGÀY NAY: ĐÔNG ÂU

Quay qua vùng thứ hai: Đông Âu. Thế giới đang chứng kiến một khủng hoảng dọc biên giới NATO-Liên Bang Nga. Đây cũng là một khủng hoảng lớn. Trong một nghiên cứu hàn lâm sáng suốt, “Mặt Trận Ukraine: Khủng Hoảng trong Vùng Các Biên Giới,” [Frontline Ukraine: Crisis in the Borderlands], một cây bút rất đáng tin cậy — Richard Sakwa — đã viết: “Chiến tranh Nga-Georgia trong tháng 8-2008 quả thật là cuộc chiến tranh đầu trong các cuộc chiến nhằm chận đứng sự bành trướng của NATO; và khủng hoảng Ukraine 2014 là cuộc chiến thứ hai. Không rõ liệu nhân loại có thể nào thượng tồn một cuộc chiến thứ ba.”[6]

Tây Phương xem bành trướng NATO là hành động tốt — là nhân từ. Và cũng chẳng có gì đáng ngạc nhiên, Nga, cũng như nhiều tiếng nói của những nhân vật  lỗi lạc Tây Phương, và phần lớn Nam Bán Cầu, lại nghĩ khác. George Kennan đã sớm cảnh cáo: bành trướng NATO là một “lỗi lầm bi đát”, và trong thư ngõ gửi Tòa Bạch Ốc, cùng với các chính khách lão thành Hoa Kỳ, đã mô tả động thái đó như một “sai lầm chính sách với tầm vóc lịch sử.”[7]

Cuộc khủng hoảng hiện nay có nguồn gốc từ năm 1991: Chiến Tranh Lạnh chấm dứt và Liên Bang Xô Viết sụp đổ. Lúc đó, hai viễn kiến trái ngược về một hệ thống an ninh và kinh tế chính trị mới trong toàn vùng Âu-Á đã được ghi nhận.

Theo lời của Sakwa, viễn kiến thứ nhất về một ” ‘Âu Châu Rộng Lớn Hơn’, với EU [Liên Hiệp Âu Châu] tại trung tâm ngày một bành trướng và cùng chung ranh giới với cộng đồng an ninh và chính trị Euro-Atlantic; viễn kiến thứ hai là về ý tưởng” một ‘Âu Châu Nới Rộng’ hay một ‘Âu Châu lục địa’, trải dài từ Lisbon đến Vladivostok, với nhiều trung tâm, kể cả Brussels, Moscow, và Ankara, nhưng với  mục đích chung nhằm ngăn ngừa các chia cắt gây tai họa truyền thống cho chính Âu Châu lục địa.”[8]

Lãnh tụ Xô Viết Mikhail Gorbachev cũng đã đưa ra đề nghị quan trọng: “Greater Europe” — một ý niệm cũng có nguồn gốc Âu Châu trong chủ nghĩa Gaullism và nhiều sáng kiến khác. Tuy nhiên, trong khi Liên Bang Xô Viết đã sụp đổ dưới những cải cách thị trường tai họa trong thập kỷ 1990s, viễn kiến đã mờ nhạt,  và chỉ được tái tục khi Nga bắt đầu hồi phục và tìm kiếm một địa vị trên sân khấu chính trị thế giới dưới thời Vladimir Putin, người cùng với lãnh đạo cộng sự Dmitry Medvedev đã liên tục kêu gọi thống nhất địa-chính-trị trong toàn bộ Âu Châu Nới Rộng [Greater Europe] từ Lisbon đến Vladivostok, để trở thành một “Đối Tác Chiến Lược thực sự.”

Sakwa cũng viết, các sáng kiến nầy đã được chào đón với “khinh khi lễ độ,”[greeted with polite contempt], không mấy khác một “lớp võ che dấu việc thiết lập một  “Greater Russia by stealth”[một nước “Nga Nới Rộng kín đáo],” và một nỗ lực chia rẽ Bắc Mỹ với Tây Âu. Những âu lo đó đã bắt nguồn từ những e ngại Chiến Tranh Lạnh trước đây: “Âu Châu có thể trở thành một lực lượng thứ ba độc lập đối với “cả hai siêu cường lớn và nhỏ,” và ngày một gần gũi thân hữu hơn với siêu cường nhỏ [như từng thấy trong Ostpolitik và các sáng kiến khác của Willy Brandt trước đây].

Phản ứng của Tây Phương đối với sự sụp đổ của Liên Bang Xô Viết  mang tính “một chiến thắng”. Sự cố đã được hoan nghênh như một tín hiệu “chấm dứt của lịch sử,” như chiến thắng cuối cùng của Dân Chủ Tư Bản Tây Phương, không mấy khác Nga đã được thông tri hay nhắn nhũ phải trở về với quy chế tiền-Đệ-Nhất-Thế-Chiến, không mấy khác một thuộc đia kinh tế của Tây Phương. “NATO bành trướng” đã bắt đầu tức khắc, vi phạm các cam-kết-bằng-lời với Gorbachev: “các lực lượng NATO sẽ không xê dịch về hướng đông dù chỉ một inch,” sau khi Gorbachev đã đồng ý: một  Đức quốc thống nhất có thể trở thành một thành viên của NATO — một nhương bộ đáng ghi nhớ  trong ánh sáng của lịch sử. Thảo luận nầy đã được giữ nguyên đối với Đông Đức.  Một NATO khả dĩ bành trướng ra quá Đức Quốc đã không được thảo luận với Gorbachev, ngay cả nếu đã được cứu xét riêng tư.

Chẳng bao lâu sau, NATO đã bắt đầu dịch chuyển [vượt] qúa Đức Quốc, đến tận các biên giới của Nga. Sứ mệnh chung của NATO đã chính thức thay đổi thành “sứ mệnh bảo vệ các hạ tầng cơ sở thiết yếu” [“mandate to protect crucial infrastructure”] của hệ thống năng lượng toàn cầu, các đường biển, và các tuyến ống dẫn năng lượng, đem lại cho NATO một không gian hoạt động toàn cầu. Hơn nữa, với một tái duyệt Tây Phương thiết yếu của chủ thuyết “trách nhiệm bảo vệ,”  nay đã được loan báo rộng rãi, rõ rệt khác với dạng thức Liên Hiệp Quốc chính thức, NATO ngày nay cũng có thể phục vụ như một lực lượng can thiệp dưới quyền điều động của Hoa Kỳ.

Điều đặc biệt đáng quan tâm đối với Nga là các kế hoạch bành trướng NATO đến Ukraine. Các kế hoạch nầy đã được hoạch đinh minh bạch tại kỳ họp thượng đỉnh của NATO ở Bucharest trong tháng 4-2008,  khi Georgia và Ukraine được hứa hẹn tư cách thành viên NATO trong tương lai. Lời lẽ đã khá rõ ràng: “NATO hoan nghênh khát vọng Âu châu-Đại Tây Dương của Georgia và Ukraine như hai thành viên trong NATO. Ngày nay chúng tôi đồng ý các xứ nầy sẽ là thành viên của NATO.”  Với sự đắc thắng của “Cách mạng Cam” và của các ứng cử viên thân Tây Phương ở Ukraine trong năm 2004, đại diện Bộ Ngoại Giao Daniel Fried đã vội vã đến đó và nhấn mạnh hậu thuẩn của Hoa Kỳ đối với NATO của Ukraine và các khát vọng Âu châu-Đại Tây Dương”, như một phúc trình của WikiLeak đã tiết lộ: “[9]

Các ưu tư nầy của Nga rất dễ hiểu. Các nét đại cương của các âu lo đã được phác họa bởi học giả quan hệ quốc tế John Mearsheimer trong nhật báo hàng đầu của Hoa Kỳ, Foreign Affairs. Mearsheimer viết:”gốc rễ cuộc khủng hoảng hiện nay [về Ukraine] là sự bành trướng của NATO và cam kết của Hoa Thịnh Đốn tách  Ukraine khỏi quỹ đạo Moscow và hội nhập Ukraine vào Tây Phương,” điều Putin đã xem như “một đe dọa trực tiếp đối với các quyền lợi cốt lõi của Nga”.[10]

Mearsheimer hỏi: “Ai có thể chỉ trích Putin?” nêu rõ “Hoa Thịnh Đốn có thể không thích lập trường của Moscow, nhưng Hoa Thịnh Đốn cần phải hiểu rõ luận lý bên sau lập trường đó.” Điều nầy chẳng có gì khó khăn. Xét cho cùng, như mọi người đều rõ, “Hoa Kỳ không tha thứ các đại cường xa xôi giàn trải lực lượng quân sự bất cứ ở đâu trong Tây Bán Cầu, nói gì đến ngay trên biên giới của Mỹ.”[11]

Trong thực tế, lập trường của Hoa Kỳ còn mạnh mẽ hơn xa. Mỹ không tha thứ những gì chính thức được gọi là “thách thức thành công” đối với Chủ Thuyết Monroe năm 1823, chủ thuyết đã tuyên bố [nhưng chưa thể thực thi] Hoa Kỳ kiểm soát bán cầu. Và một xứ nhỏ thực thi thách thức thành công có thể phải gánh chịu “các kinh hãi của địa cầu” và một cấm vận nghiền nát — như đã xẩy ra cho Cuba. Chúng ta không cần hỏi bằng cách nào Hoa Kỳ đã có thể phản ứng nếu các xứ Mỹ Latin gia nhập Hiêp Ước Warsaw, với các kế hoạch dành cho Mexico và Canada cùng tham gia. Chỉ một lời bóng gió gợi ý vài bước ngập ngừng đầu tiên theo chiều hướng nầy cũng đủ để đã phải gánh chịu, theo giọng điệu của CIA, “bị kết thúc với tai họa cực kỳ.” [12]

Như trong trường hợp của Trung Quốc, không ai cần  phải nhìn các động thái của Putin và các động lực thuận lợi để hiểu được luận lý phía sau, cũng chẳng cần nắm bắt tầm quan trọng hiểu rõ luận lý đó, thay vì thốt ra những lời nguyền rủa chống đối.  Như trong trường hợp của Trung Quốc, nhiều thứ sẽ lâm nguy, với tới rất  xa…, xa như các vấn đề sống còn hay thượng tồn.

NHỮNG THỬ THÁCH NGÀY NAY: THẾ GIỚI HỒI GIÁO

Đến đây, chúng ta  sẽ quay qua vùng thứ ba với rất nhiều âu lo: Thế giới [phần lớn] Hồi Giáo và cũng là hiện trường của Cuộc Chiến Toàn Cầu Chống Khủng Bố [GWOT] George W. Bush đã tuyên bố trong năm 2001, tiếp theo sau biến cố 9/11. Để chính xác hơn, tái tuyên bố. GWOT [Global War On Terror] đã do chính quyền Reagan tuyên bố khi nhậm chức, với những mỹ từ nóng sốt như một “dịch bệnh lan tràn  bởi các đối thủ đồi bại của chính nền văn minh” [như Reagan đã gọi] và một “quay trở lại tình trạng man rợ trong kỷ nguyên hiện đại” [theo ngôn từ của George Schultz, bộ trưởng ngoại giao].

GWOT” nguyên thủy đã bị lặng lẽ xóa bỏ khỏi lịch sử.  Cuộc chiến đã chóng vánh trở thành một “chiến tranh khủng bố” sát hại và tàn phá  trong các vùng Trung Mỹ, Nam Phi, và Trung Đông, với những tiếng vang ảm đạm cho đến ngày nay,  ngay cả  đưa đến sự lên án Hoa Kỳ bởi Tòa Án Quốc Tế [Hoa Thịnh Đốn đã bác bỏ]. Trong mọi trường hợp, đó không phải câu chuyện đứng đắn cho lịch sử, vì vậy, cũng đã phải thủ tiêu.[13]

Sự thành công của “GWOT” — dạng thức Bush-Obama — có thể sẵn sàng được lượng định qua trực tiếp kiểm tra. Khi cuộc chiến được tuyên bố, các mục tiêu khủng bố chỉ thu gọn trong một góc nhỏ của vài bộ tộc Afghanistan. Các tên khủng bố đã được dân Afghanistan bảo vệ theo tục lệ hiếu khách của các bộ tộc, những người phần lớn không ưa thích hay ghét bỏ khủng bố. Điều đã đánh lạc hướng người Mỹ khi các dân quê nghèo nàn đã từ chối không trao Osama bin Laden cho Hoa Kỳ để đổi lấy khoản tiền thưởng 25 triệu mỹ kim, một món tiền kếch sù đối với họ.”

Có nhiều lý do để tin một hành động cảnh sát được cấu trúc tốt, hay ngay cả các thương thảo ngoại giao nghiêm chỉnh với Taliban, cũng đã có thể giúp đưa các can phạm 9/11 vào tay người Mỹ để xét xử và buộc tội. Nhưng những lựa chọn đó đã không được cứu xét. Thay vào đó, một lựa chọn thiếu đắn đo là bạo động quá đáng  — không với mục đích lật đổ phe Taliban [chỉ đến về sau], nhưng để tỏ rõ người Mỹ khinh khi các toan tính của Taliban về đề nghị dẫn độ bin Laden. Trình độ nghiêm chỉnh của những đề nghị nầy ra sao chúng ta không được biết, bởi lẽ khả năng thăm dò không bao giờ được cứu xét. Hay cũng có thể Hoa Kỳ chỉ muốn “chứng tỏ quyền lực của kẻ mạnh, ghi thắng lợi và dọa nạt răn đe mọi người trên thế giới. Họ không chút quan tâm đến nỗi đau của người Afghanistan hay các tổn thương người Mỹ có thể sẽ phải gánh chịu.”[14]

Đó là phán đoán của một lãnh tụ chống Taliban đáng kính, Abdul Haq, một trong số những người chống đối đã lên án chiến dịch dội bom của Mỹ, phát động trong tháng 10-2001, như một bước giật lùi trong nỗ lực lật đổ phe Taliban từ bên trong của chính họ,  một mục tiêu họ đánh giá nằm trong tầm tay. Phán đoán của Abdul Haq đã được xác nhận bởi Richard A. Clarke, chủ tịch Nhóm An Ninh Chống Khủng Bố trong Bạch Ốc dưới thời Tổng Thống George W. Bush, khi các kế hoạch tấn công Afghanistan được soạn thảo. Trong lúc Clarke đang mô tả buổi họp, và ngay khi được thông báo cuộc tấn công có thể vi phạm luật pháp quốc tế, “Tổng Thống đã hét lớn trong phòng hội chật hẹp, ‘Tôi không cần lưu ý những gì các luật gia quốc tế nói, chúng ta sẽ đá đít vài người’.” Cuộc tấn công cũng đã bị nhiều tổ chức viện  trợ quan trọng ở Afghanistan chống đối, họ cảnh cáo hàng triệu  người sắp chết đói và hậu quả có thể khủng khiếp.[15]

Hậu quả đối với dân nghèo Afghanistan nhiều năm sau cũng chẳng cần được tái lượng định.

Mục đích kế tiếp của “búa tạ” là Iraq. Cuộc xâm lăng Mỹ-Anh, hoàn toàn không có lý do chính đáng, và là tội phạm lớn trong thế kỷ XXI. Cuộc xâm lăng đã dẫn đến cái chết cuả hàng trăm nghìn người trong một xứ nơi xã hội dân sự đã bị tàn phá bởi các chế  tài của Hoa Kỳ và Anh quốc, và  được xem như diệt chủng bởi hai nhà ngoại giao quốc tế lỗi lạc quản trị chương trình, cả hai đã từ chức để phản đối vì cùng một lý do. Cuộc xâm lăng cũng đã gây ra hàng triệu tỵ nạn, tiêu hủy hầu như trọn vẹn Iraq, và gây ra xung đột giáo phái nay đang xé nát Iraq và toàn vùng.

Đây là một sự kiện đáng kinh ngạc về một nền văn hóa trí thức và đạo đức trong nhiều nhóm hiểu biết và sáng suốt  có thể được gọi một cách mỉa mai : “giải phóng Iraq.”[16]

Các cuộc thăm dò ý kiến của Ngũ Giác Đài và Bộ Quốc Phòng Anh Quốc đã cho biết: chỉ 3% dân Iraq đã xem vai trò an ninh của Hoa Kỳ trong xứ láng giềng là chính đáng, ít hơn 1% tin các lực lượng liên minh Anh-Mỹ là tốt cho an ninh, 80% chống đối sự hiện diện của các lực lượng liên minh trong xứ, và một đa số hậu thuẩn các cuộc tấn công vào quân đội liên minh.[17]

Afghanistan đã bị tàn phá không còn có thể thăm dò ý kiến, dù chỉ với chút ít giá trị, nhưng  vẫn có nhiều chỉ dấu tình trạng cũng không mấy khác. Đặc biệt ở Iraq, Hoa Kỳ đã chịu thất bại nghiêm trọng, đã phải từ bỏ các mục tiêu chiến tranh chính thức, và đang để lại một xứ dưới ảnh hưởng của xứ chiến thắng duy nhất — Iran.

“Búa tạ” cũng đã được sử dụng trong nhiều nơi khác, nhất là ở Libya– nơi ba đại cường đế quốc cổ điển [Anh, Pháp, và Hoa Kỳ]  với nghị quyết của Hội Đồng Bảo An năm 1973 trong tay  để rồi vi phạm ngay sau đó —  nay đang trở thành không lực của phe trỗi dậy. Hậu quả là đã phá hỏng khả năng một giải pháp hòa bình và thương thảo; để lại một Libya đổ nát, trong tay các chiến binh và dân quân tương tàn; gia tăng số thương vong [lên gấp mười lần theo nhà khoa học chính trị Alan Kuperman];  và gần đây hơn, đã bỏ lại cho Nhà Nước Hồi Giáo một căn cứ có thể sử dụng để gieo rắc thêm khủng bố và điêu tàn. Các đề nghị ngoại giao khá phải chăng bởi Liên Hiệp Phi Châu, được Muammar Qaddafi của Libya chấp nhận trên nguyên tắc, nhưng tam hùng đế quốc đã làm ngơ, trong khi chuyên gia Phi Châu Alex de Waal đang tái duyệt. Một dòng chảy các vũ khí và các thành phần thánh chiến đã khiến khủng bố và bạo động lan tràn từ Tây Phi [hiện là vô địch ám sát và khủng bố] đến Levant, trong khi các cuộc tấn công của NATO cũng đã gây ra dòng thác tỵ nạn từ Phi Châu đến Âu Châu.

Tuy nhiên,  vẫn còn một thắng lợi khác của “can thiệp vì nhân đạo”, và như hồ sơ dài và thường kinh rợn tiết lộ, không phải một hồ sơ bất thường, mà là một hồ sơ ngược dòng lịch sử trở lại các gốc rễ cách đây bốn thế kỷ.

 

Nguyễn Trường

Irvine, California, USA

16-5-2016

 

Chú Thích: Bài viết dựa trên tư liệu trong tác phẩm mới, Who Rules the World?, của Noam Chomsky, giáo sư hưu trí thuộc Department of Linguistics and Philosophy at Massachusetts Institute of Technology.

 

[1] All for ourselves and nothing for other people.

[2] In Violent Politics, his masterful review of insurgencies from “the American insurgency” to contemporary Afghanistan and Iraq, William Polk concludes that General Washington “was so anxious to sideline [the fighters he despised] that he came close to losing the Revolution.” Indeed, he “might have actually done so” had France not massively intervened and “saved the Revolution,” which until then had been won by guerrillas — whom we would now call “terrorists” — while Washington’s British-style army “was defeated time after time and almost lost the war.

[3] On the front page of the New York Times, journalist Patrick Tyler reported that “there may still be two superpowers on the planet : the United States and world public opinion.”

[4] Unprecedented protest in the United States was a manifestation of the opposition to aggression that began decades earlier in the condemnation of the U.S. wars in Indochina, reaching a scale that was substantial and influential, even if far too late. By 1967, when the antiwar movement was becoming a significant force, military historian and Vietnam specialist Bernard Fall warned that “Vietnam as a cultural and historic entity… is threatened with extinction… [as] the countryside literally dies under the blows of the largest military machine ever unleashed on an area of this size.”

[5] He begins by reviewing the Western picture of world order: “Ever since the end of the Cold War, the overwhelming power of the U.S. military has been the central fact of international politics.” This is particularly crucial in three regions: East Asia, where “the U.S. Navy has become used to treating the Pacific as an ‘American lake’”; Europe, where NATO — meaning the United States, which “accounts for a staggering three-quarters of NATO’s military spending” — “guarantees the territorial integrity of its member states”; and the Middle East, where giant U.S. naval and air bases “exist to reassure friends and to intimidate rivals.”

The problem of world order today, Rachman continues, is that “these security orders are now under challenge in all three regions” because of Russian intervention in Ukraine and Syria, and because of China turning its nearby seas from an American lake to “clearly contested water.” The fundamental question of international relations, then, is whether the United States should “accept that other major powers should have some kind of zone of influence in their neighborhoods.” Rachman thinks it should, for reasons of “diffusion of economic power around the world — combined with simple common sense.”

[6]   In his illuminating and judicious scholarly study of the region, Frontline Ukraine: Crisis in the Borderlands,      Richard Sakwa writes — all too plausibly — that the “Russo-Georgian war of August 2008 was in effect the first of the ‘wars to stop NATO enlargement’; the Ukraine crisis of 2014 is the second. It is not clear whether humanity would survive a third.”

[7] The West sees NATO enlargement as benign. Not surprisingly, Russia, along with much of the Global South, has a different opinion, as do some prominent Western voices. George Kennan warned early on that NATO enlargement is a “tragic mistake,” and he was joined by senior American statesmen in an open letter to the White House describing it as a “policy error of historic proportions.”

[8] The present crisis has its origins in 1991, with the end of the Cold War and the collapse of the Soviet Union. There were then two contrasting visions of a new security system and political economy in Eurasia. In Sakwa’s words, one vision was of a “‘Wider Europe,’ with the EU at its heart but increasingly coterminous with the Euro-Atlantic security and political community; and on the other side there [was] the idea of ‘Greater Europe,’ a vision of a continental Europe, stretching from Lisbon to Vladivostok, that has multiple centers, including Brussels, Moscow and Ankara, but with a common purpose in overcoming the divisions that have traditionally plagued the continent.”

[9] Of particular concern to Russia are plans to expand NATO to Ukraine. These plans were articulated explicitly at the Bucharest NATO summit of April 2008, when Georgia and Ukraine were promised eventual membership in NATO. The wording was unambiguous: “NATO welcomes Ukraine’s and Georgia’s Euro-Atlantic aspirations for membership in NATO. We agreed today that these countries will become members of NATO.” With the “Orange Revolution” victory of pro-Western candidates in Ukraine in 2004, State Department representative Daniel Fried rushed there and “emphasized U.S. support for Ukraine’s NATO and Euro-Atlantic aspirations,” as a WikiLeaks report revealed.

[10] Russia’s concerns are easily understandable. They are outlined by international relations scholar John Mearsheimer in the leading U.S. establishment journal, Foreign Affairs. He writes that “the taproot of the current crisis [over Ukraine] is NATO expansion and Washington’s commitment to move Ukraine out of Moscow’s orbit and integrate it into the West,” which Putin viewed as “a direct threat to Russia’s core interests.”

[11] Who can blame him?” Mearsheimer asks, pointing out that “Washington may not like Moscow’s position, but it should understand the logic behind it.” That should not be too difficult. After all, as everyone knows, “The United States does not tolerate distant great powers deploying military forces anywhere in the Western hemisphere, much less on its borders.”

[12] In fact, the U.S. stand is far stronger. It does not tolerate what is officially called “successful defiance” of the Monroe Doctrine of 1823, which declared (but could not yet implement) U.S. control of the hemisphere. And a small country that carries out such successful defiance may be subjected to “the terrors of the earth” and a crushing embargo — as happened to Cuba. We need not ask how the United States would have reacted had the countries of Latin America joined the Warsaw Pact, with plans for Mexico and Canada to join as well. The merest hint of the first tentative steps in that direction would have been “terminated with extreme prejudice,” to adopt CIA lingo.

[13] also the scene of the Global War on Terror (GWOT) that George W. Bush declared in 2001 after the 9/11 terrorist attack. To be more accurate, re-declared. The GWOT was declared by the Reagan administration when it took office, with fevered rhetoric about a “plague spread by depraved opponents of civilization itself” (as Reagan put it) and a “return to barbarism in the modern age” (the words of George Shultz, his secretary of state). The original GWOT has been quietly removed from history. It very quickly turned into a murderous and destructive terrorist war afflicting Central America, southern Africa, and the Middle East, with grim repercussions to the present, even leading to condemnation of the United States by the World Court (which Washington dismissed). In any event, it is not the right story for history, so it is gone.

[14] There are good reasons to believe that a well-constructed police action, or even serious diplomatic negotiations with the Taliban, might have placed those suspected of the 9/11 crimes in American hands for trial and sentencing. But such options were off the table. Instead, the reflexive choice was large-scale violence — not with the goal of overthrowing the Taliban (that came later) but to make clear U.S. contempt for tentative Taliban offers of the possible extradition of bin Laden. How serious these offers were we do not know, since the possibility of exploring them was never entertained. Or perhaps the United States was just intent on “trying to show its muscle, score a victory and scare everyone in the world. They don’t care about the suffering of the Afghans or how many people we will lose.”

[15] That was the judgment of the highly respected anti-Taliban leader Abdul Haq, one of the many oppositionists who condemned the American bombing campaign launched in October 2001 as “a big setback” for their efforts to overthrow the Taliban from within, a goal they considered within their reach. His judgment is confirmed by Richard A. Clarke, who was chairman of the Counterterrorism Security Group at the White House under President George W. Bush when the plans to attack Afghanistan were made. As Clarke describes the meeting, when informed that the attack would violate international law, “the President yelled in the narrow conference room, ‘I don’t care what the international lawyers say, we are going to kick some ass.'” The attack was also bitterly opposed by the major aid organizations working in Afghanistan, who warned that millions were on the verge of starvation and that the consequences might be horrendous.

[16]The next target of the sledgehammer was Iraq. The U.S.-UK invasion, utterly without credible pretext, is the major crime of the twenty-first century. The invasion led to the death of hundreds of thousands of people in a country where the civilian society had already been devastated by American and British sanctions that were regarded as “genocidal” by the two distinguished international diplomats who administered them, and resigned in protest for this reason. The invasion also generated millions of refugees, largely destroyed the country, and instigated a sectarian conflict that is now tearing apart Iraq and the entire region. It is an astonishing fact about our intellectual and moral culture that in informed and enlightened circles it can be called, blandly, “the liberation of Iraq.”

[17] Pentagon and British Ministry of Defense polls found that only 3% of Iraqis regarded the U.S. security role in their neighborhood as legitimate, less than 1% believed that “coalition” (U.S.-UK) forces were good for their security, 80% opposed the presence of coalition forces in the country, and a majority supported attacks on coalition troops. Afghanistan has been destroyed beyond the possibility of reliable polling, but there are indications that something similar may be true there as well. Particularly in Iraq the United States suffered a severe defeat, abandoning its official war aims, and leaving the country under the influence of the sole victor, Iran.

Advertisements