CHỦ NHÂN ÔNG CỦA NHÂN LOẠI

hay

BẠO LỰC VÀ CÁI GIÁ PHẢI TRẢ

 

Một cách vắn tắt, “chiến lược búa tạ”[sledgehammer strategy] của Cuộc Chiến Toàn Cầu Chống Khủng Bố [Global War on Terror — GWOT] đã làm “khủng bố thánh chiến” [jihadi terror] lan tràn từ một góc nhỏ của Afghanistan ra phần lớn thế giới, từ Phi Châu xuyên qua Levant, các xứ trên bờ Địa Trung Hải và Nam Á, đến Đông Nam Á. Chiến lược cũng đã gây ra các cuộc tấn công ở Âu Châu và Hoa Kỳ. Cuộc xâm lăng Iraq cũng đã đóng góp một phần quan trọng vào diễn tiến, một phần lớn như các cơ quan tình báo đã tiên đoán.

Các chuyên gia về chủ nghĩa khủng bố, Peter Bergen và Paul Cruickshank, lượng định cuộc chiến Iraq “đã làm tỉ suất các cuộc tấn công thánh chiến hàng năm gia tăng gấp bảy lần, lên đến hàng trăm các cuộc tấn công khủng bố phụ trội và hàng nghìn thường dân thương vong; ngay cả khi loại trừ nạn khủng bố ở Iraq và Afghanistan, các cuộc tấn công gây tử vong trong phần còn lại của thế giới cũng đã gia tăng hơn một phần ba.”[1]

Các cuộc điều tra khác cũng cho thấy những hậu quả tương tự.

Một nhóm các tổ chức nhân quyền quan trọng — Hiệp hội “các Bác Sĩ chuyên về Trách Nhiệm Xã Hội” [Hoa Kỳ], các Bác Sĩ Về Thượng Tồn Toàn Cầu [Gia Nả Đại], và các Bác Sĩ Thế Giới về Ngăn Ngừa Chiến Tranh Nguyên Tử [Đức Quốc] — đã tổ chức nhiều cuộc khảo sát tìm cách “cung cấp một lượng định càng thực tế càng tốt tổng số các nạn nhân trong ba khu vực chiến tranh chính yếu [Iraq, Afghanistan, và Pakistan]trong suốt 12 năm “chiến tranh chống khủng bố,” kể cả một rà soát các nghiên cứu và dữ liệu quan trọng, đã công bố con số các nạn nhân trong các xứ nầy,” bên cạnh các thông tin khác về các hành động quân sự.

“Ước tính bảo thủ của họ”: các cuộc chiến tranh nói trên đã gây tử vong cho khoảng 1,3 triệu người, một tổng số thương vong “có thể trên 2 triệu.” Một tìm kiếm cơ sở  dữ liệu bởi nhà nghiên cứu độc lập, David Peterson, trong những ngày sau khi phúc trình đã được phổ biến, cho biết hầu như đã không nhắc đến con số nầy. Nhưng ai quan tâm?

Một cách tổng quát, các nghiên cứu do Viện Nghiên Cứu Hòa Bình Oslo [Oslo Peacce Research Institute] thực hiện cho thấy: 2/3 số tử vong đã do các xung đột nội bộ nơi các người bên ngoài đã áp đặt giải pháp của chính họ. Ở Syria, con số tử vong do xung đột trực tiếp đã tăng gấp ba sau khi các cường quốc Tây Phương khởi động các cuộc không tạc chống lại Nhà Nước Hồi Giáo [self-declared Islamic State]  và CIA đã bắt đầu gián tiếp can thiệp quân sự vào cuộc chiến — một can thiệp rõ ràng đã lôi kéo người Nga nhập cuộc trong khi các hỏa tiển chống xe tăng tiền tiến của Hoa Kỳ tàn sát các lực lượng của Bashar al-Assad, đồng minh của Nga. Các chỉ dấu đầu tiên cho thấy cuộc bỏ bom của Nga đang đem lại các hậu quả thường lệ.

Bằng chứng do khoa học gia chính trị Timo Kivimaki xét duyệt chứng tỏ: “các cuộc chiến che chở [bởi các liên minh tự nguyện] đã trở thành nguồn bạo lực chính yếu trên thế giới, đôi khi đã gây ra trên 50% tổng số tử vong trong các cuộc xung đột.” Hơn nữa, trong nhiều trường hợp, kể cả Syria, như Timo Kivimaki đã duyệt xét, có nhiều cơ hội có thể giàn xếp qua ngoại giao, nhưng đã bị làm ngơ. Điều nầy cũng xác thực trong nhiều tình huống kinh khủng khác, kể cả ở Balkans trong đầu thập kỷ 1990s, cuộc Chiến Vùng Vịnh đầu tiên, và đã hẳn, các cuộc chiến Đông Dương — tội phạm tệ hại nhất kể từ Đệ Nhị Thế Chiến. Trong trường hợp Iraq, vấn đề ngay cả không được đặt ra. Đã hẳn đã có vài bài học ở đây.

Các hậu quả tổng quát của việc sử dụng “chiến lược búa tạ,” chống lại các xứ dễ bị thương tổn, thường chẳng mấy đáng ngạc nhiên. Tác phẩm nghiên cứu cẩn trọng các cuộc trỗi dậy của William Polk, “Chính Trị Bạo Động” [“Violent Politics”], là thiết yếu cần đọc đối với những ai muốn thấu hiểu các cuộc xung đột hiện nay, và đã hẳn, đối với các nhà hoạch định, giả thiết họ rất quan tâm đến các hậu quả nhân đạo và không phải vì quyền lực và thống trị. Polk tiết lộ một khuôn mẫu đã được lặp đi lặp lại nhiều lần. Những kẻ xâm lăng — tự nhân vì những lý do nhân từ nhất — tự nhiên không được quần chúng ưa thích và không nghe theo, lúc đầu trong những phương cách nhỏ nhặt, nhưng dần dà đưa đến một đáp ứng bạo lực, làm tăng thêm chống đối và hậu thuẩn cho đề kháng. Chu kỳ bạo lực leo thang cho đến khi phe xâm lăng rút lui — hoặc đạt được các mục đích của mình với các phương cách có thể dẫn đến diệt chủng.

THEO “AL-QAEDA GAME PLAN”

Chiến dịch ám sát toàn cầu bằng phi cơ tự động [drone] của Obama, một canh tân đáng chú ý trong khủng bố toàn cầu, phơi bày cùng những mẫu mực. Trong mọi trường hợp, chiến dịch đã làm gia tăng hàng ngũ khủng bố toàn cầu nhanh hơn giết hại những thành phần tình nghi một ngày nào đó có thể có  ý định hãm hại Tây Phương — một đóng góp đầy ấn tượng bởi một “luật gia luật hiến pháp” [constitutional lawyer] nhân kỷ niệm lần thứ 800  Magna Carta, thiết kế căn bản cho nguyên tắc giả thiết vô tội , nền móng của luật pháp văn minh.

Một nét đặc trưng khác của các can thiệp Tây phương là lòng tin: sự trỗi dậy có thể dập tắt qua biện pháp thanh toán hay loại bỏ các cấp lãnh đạo. Nhưng khi một nỗ lực như thế thành công, vị lãnh đạo bị nguyền rủa luôn được thay thế bởi một nhân vật trẻ trung hơn, quyết đoán hơn, tàn nhẫn hơn, và hữu hiệu hơn. Polk đã đưa ra nhiều ví dụ. Sử gia quân sự Andrew Cockburn đã xét lại các chiến dịch của Hoa Kỳ thanh toán các nhân vật trụ cột buôn bán nha phiến và khủng bố trong một giai đoạn dài lâu, trong một nghiên cứu quan trọng “Kill Chain,” và đã tìm thấy cùng kết quả. Và người ta có thể chờ đợi với đầy tin tưởng chuẫn mực sẽ tiếp tục.

Đã hẳn, hiện nay các chiến lược gia Hoa Kỳ đang tìm cách ám sát “vua Hồi của Nhà Nước Hồi Giáo” [Caliph of the Islamic State], Abu Bakr al-Baghdadi, đối thủ cạnh tranh của lãnh tụ al-Qaeda,  Ayman al-Zawahiri. Kết quả thành công khả dĩ được dự đoán bởi học giả nổi tiếng về chủ nghĩa khủng bố,  Bruce Hoffman,  viện sĩ cao cấp tại Trung Tâm Chống Khủng Bố thuộc Viện Hàn Lâm Quân Sự Hoa Kỳ. Hoffman tiên đoán “cái chết của al-Baghdadi có thể dọn dường cho động thái tiến lại gần hơn [với al-Qaeda] thành một lực lượng khủng bố phối hợp với kích cỡ, tham vọng, và tài nguyên vô tiền khoáng hậu.”[2]

Polk đơn cử luận thuyết chiến tranh của tác giả Henry Jomini, ảnh hưởng bởi sự thất bại của Napoleon dưới tay các du kích quân Tây Ban Nha — luận thuyết đã trở thành sách giáo khoa cho nhiều thế hệ sinh viên sĩ quan tại hàn lâm viện West Point. Jomini nhận định: các can thiệp như thế bởi các đại cường thường dẫn đến “các cuộc chiến ý tưởng,” [wars of opinion], và hầu như luôn là “các cuộc chiến quốc gia,” nếu không ngay từ đầu lúc đó cũng trở thành như thế trong quá trình đấu tranh, theo các động lực Polk đã mô tả. Jomini kết luận “các cấp chỉ huy quân đội chính quy được khuyến cáo phải tránh các cuộc chiến như thế bởi lẽ sẽ thất bại,” và ngay cả các thành công biểu kiến cũng sẽ không dài lâu.

Các nghiên cứu cẩn trọng về al-Qaeda và ISIS đã cho thấy: Hoa Kỳ và các đồng minh đang đi theo phương sách hành động của các tổ chức nầy một cách khá rõ ràng.  Mục tiêu là “lôi kéo Tây Phương ngày một lún sâu và tích cực vào vũng lầy và triền miên cầm chân với chiến tranh cân não đối với Hoa Kỳ và Tây Phương trong một chuổi các chương trình mạo hiểm kéo dài ở hải ngoại,” trong đó họ sẽ phá hoại các xã hội nầy,  gây tổn phí tài nguyên, và gia tăng cấp độ bạo động, các động thái Polk đang duyệt xét.

Scott Atran, một trong số các nhà nghiên cứu tầm cỡ nhất về các phong trào thánh chiến,  đã lượng định: thực thi biến cố 9/11 tốn khoảng từ 400.000 và 500.000 USD trong khi đáp ứng an ninh và quân sự bởi Hoa Kỳ và các đồng minh đã lên đến gấp 10 triệu lần con số đó. Trên căn bản phí tổn/đặc lợi thuần túy, phong trào bạo động đã thành công ngoài sức tưởng tượng, hơn cả tưởng tượng nguyên thủy của Bin Laden, và ngày một lớn lao hơn. Đây chính là là mực thước đo lường bất cân xứng trong võ thuật jujitsu [jujitsu-style]. Xét cho cùng, không ai có thể tuyên bố chúng ta đã có lợi hơn trước, hay mối nguy cơ nói chung đang ngày một giảm thiểu?”[3]

Và nếu người Mỹ cứ  tiếp tục nắm chặt “búa tạ”, lặng lẻ đi theo kịch bản thánh chiến, hiệu quả khả dĩ là ngay cả thánh chiến bạo động hơn, với sức lôi cuốn rộng lớn hơn. Tốt hơn và hiệu quả hơn, Atran khuyến cáo, “là nên cổ súy một thay đổi căn bản trong chiến lược chống đối của chúng ta”.[4]

Al-Qaeda/ISIS đang được trợ giúp bởi chính các lãnh đạo Mỹ đang dõi theo chỉ thị của chính họ: chẳng hạn, Ted “carpet-bomb ’em”Cruz, một ứng cử viên tổng thống hàng đầu của đảng Cộng Hòa.”[5]

Hoặc, tận cùng phía bên kia quang phổ dòng chính, Thomas Friedman, bỉnh bút hàng đầu về Trung Đông và các vấn đề quốc tế của báo New York Times — nhân vật,  trong năm 2003, trên chương trình phỏng vấn của Charlie Rose, đã khuyến cáo Hoa Thịnh Đốn  phương cách tiến hành cuộc chiến Iraq: “Một điều tôi thường gọi là bong bóng khủng bố…Và những gì chúng ta cần làm là đi đến phần thế giới đó và làm vỡ tung bong bóng. Trong căn bản, chỉ cần đến và dùng một chiếc gậy thật lớn đánh ngay vào tim của thế giới đó, và làm nỗ tung bong bóng. Và chỉ có một cách duy nhất để làm điều đó… Những gì chúng cần thấy là các nam- nữ thanh niên Mỹ đi từ nhà nầy qua nhà khác, từ Basra đến Baghdad, và trong căn bản nói rõ: Chỗ nào trong câu nầy bạn không hiểu? Bạn không nghĩ chúng tôi luôn trân quý xã hội mở của chúng tôi, bạn nghĩ bong bóng đùa giởn nầy chúng tôi sẽ chỉ để cho nó bay đi? Vâng, cứ thử nếm chút ít ngay đây. Ok. Charlie, đó là tất cả những gì về cuộc chiến nầy.”[6]

Đó sẽ là những gì cần cho tụi đó thấy.

NHÌN VỀ PHÍA TRƯỚC

Atran và các quan sát viên gần gũi khác nói chung đều đồng ý với các phương thuốc vừa kể. Chúng ta cần bắt đầu nhận diện những gì các nghiên cứu thận trọng đã chứng tỏ một cách đáng tin cậy: những ai bị thu hút đến thánh chiến “đang thèm muốn một cái gì trong lịch sử, trong truyền thống, với các anh hùng và đạo đức đi kèm; Nhà Nước Hồi Giáo IS, dù tàn nhẫn và ghê tởm đối với chúng ta và ngay cả đối với hầu hết mọi người trong thế giới Á Rập-Hồi giáo, đang trực tiếp nói chuyện về những điều đó… Những gì gây cảm hứng đối với các thành phần tấn công nguy hại nhất ngày nay không hẳn là Kinh Koran, nhưng một chính nghĩa gây xúc động và một lời kêu gọi hành động hứa hẹn vinh quang và quý mến trong mắt bạn bè.” Trong thực tế, ít ai trong giới thánh chiến đang có nhiều kiến thức về luật Hồi Giáo hay chút ít thần học.[7]

Polk cố vấn, chiến lược tốt nhất có thể là “một chương trình đa quốc gia, hướng về phúc lợi và đem lại thỏa mãn tâm lý…có thể làm cho sự thù ghét — nền tảng của ISIS —  bớt ác độc hơn. Các thành tố đã được nhận diện giúp cho chúng ta: nhu cầu cộng đồng,  bồi thường các phạm pháp trước đây, lời kêu gọi một bắt đầu mới.” Polk nói tiếp, “Một lời xin lỗi được diễn tả chân thành đối với các tội lỗi trong quá khứ không mấy tốn kém và có lợi nhiều.” Một đề án như thế có thể được thực thi trong các trại tỵ nạn hay “trong các túp lều và dự án gia cư buồn thảm trong các vùng ngoại ô Paris,” nơi, Atran viết, toán nghiên cứu của Atran đã tìm được sự tha thứ khá rộng rãi hay hậu thuẫn đối với các giá trị của ISIS.” Và chúng ta cũng còn có thể làm  ngay cả nhiều hơn nữa qua  ngoại giao và thương thảo chân thành thay vì sử dụng bạo lực.[8]

Không kém ý nghĩa có thể là một đáp ứng đầy danh dự đối với “khủng hoảng tỵ nạn,” phải chờ đợi rất lâu mới đến, nhưng đã ngày một  rõ nét ở Âu Châu, trong năm 2015. Điều nầy chí ít cũng đã có ý nghĩa cứu trợ nhân đạo lúc một gia tăng trong các trại ở Lebanon, Jordan, và Thổ Nhĩ Kỳ —  nơi dân tỵ nạn từ Syria đang sinh sống hết sức  khốn khổ. Nhưng thực tế  đang quá đau thương và đòi hỏi những giải pháp thực tế và can đảm hơn rất nhiều, và lẽ ra đã phải là một động lực để hành động “đối với các quốc gia tự nhận là sáng suốt”.

Có nhiều quốc gia đang gây ra rất nhiều dân tỵ nạn qua bạo lực thái quá, như Hoa Kỳ, thứ đến là Anh và Pháp. Kế đến là đã có một số quốc gia đang chấp nhận các con số lớn lao các dân tỵ nạn, kể cả những người tìm cách tránh thoát  bạo lực của Tây Phương, như Lebanon [dễ dàng giữ kỷ lục, tính theo đầu người], Jordan, và Syria trước khi bùng nổ, và trong nhiều xứ khác trong vùng. Và một phần nào trùng lặp, còn có nhiều xứ vừa gây ra dân tỵ nan và vừa từ chối nhận vào, không những từ Trung Đông mà còn từ “vườn sau” của Hoa Kỳ ở phía Nam biên giới. Một bức tranh kỳ lạ, đau đớn khi nhìn ngắm.[9]

Một bức tranh chân chính phải được truy nguyên thế hệ tỵ nạn trở về một lịch sử xa xôi hơn. Phóng viên Trung Đông kỳ cựu Robert Fisk tường trình, một trong số các videos đầu tiên do ISIS sản xuất cho thấy: “một xe ủi đất bulldozer đang san bằng một thành lũy bằng cát đánh dấu biên giới giữa Iraq và Syria. Trong khi cổ máy hũy hoại lớp vữa bụi phủ bên ngoài, máy ảnh chiếu xuống một áp phích viết tay nằm trên cát với dòng chữ: ‘End of Sykes-Picot.'”

Đối với người dân trong vùng, thỏa ước Sykes-Picot là chính biểu tượng của tính nhạo báng và tàn bạo của chủ nghĩa đế quốc Tây Phương. Âm mưu bí mật trong suốt Đệ Nhất Thế Chiến, Mark Sykes của Anh Quốc và Francois George-Picot của Pháp,  đã chia cắt toàn vùng thành những nhà nước nhân tạo để thỏa mãn các mục tiêu đế quốc của riêng họ, hoàn toàn khinh rẻ quyền lợi của các dân tộc bản địa và vi phạm các hứa hẹn thời chiến nhằm dụ dỗ người Á Rập tham gia vào nỗ lực chiến tranh của phe Đồng Minh. Thỏa ước đã phản chiếu các âm mưu, các thủ đoạn của các quốc gia Âu Châu đã tàn phá Phi Châu trong một phương cách tương tự.   Thỏa ước đã biến đổi những gì trước đó là các tỉnh tương đối yên lành của Đế Quốc Ottoman thành một vài nhà nước rất ít ổn định và dễ bùng nổ nhất thế giới.”

Từ đó, nhiều đợt can thiệp của Tây Phương vào Trung Đông và Phi Châu đã làm trầm trọng thêm tình trạng căng thẳng, xung đột, và xâu xé gây tan vỡ trong nhiều xã hội. Kết quả cuối cùng là “khủng hoảng tỵ nạn” Tây Phương vô tội hiếm khi có thể chịu đựng. Đức Quốc đã trỗi dậy như lương tâm của Âu Châu, lúc đầu [nhưng nay không còn] chấp nhận gần một triệu dân tỵ nạn —  một trong những xứ giàu nhất thế giới với một dân số 80 triệu. Ngược lại, một xứ nghèo Lebanon đã thu nhận 1,5 triệu dân tỵ nạn từ Syria, khoảng 1/4 dân số, chưa kể một triệu dân tỵ nạn Palestine đăng ký với cơ quan tỵ nạn Liên Hiệp Quốc, UNRWA, hầu hết là nạn nhân của các chính sách của Do Thái.

Âu Châu cũng đang rên xiết dưới gánh nặng dân tỵ nạn từ những xứ chính Âu Châu đã tàn phá ở Phi Châu,  không phải không có trợ giúp của Mỹ — như người Congo và người Angola, và nhiều nước khác, có thể là chứng nhân. Âu châu hiện nay đang tìm cách hối lộ Thổ Nhĩ Kỳ [với hơn hai triệu dân tỵ nạn Syria] nhằm tìm trợ giúp ngăn cản các thành phần đang tìm cách tránh thoát các tai ương kinh hoàng ở Syria khỏi các biên giới Âu Châu, cũng như Obama cũng đang gây sức ép đối với Mexico tìm trợ giúp bảo vệ biên giới của chính Hoa Kỳ trước nạn nhân khốn khổ đang tìm cách tránh thoát hậu quả cuộc chiến toàn cầu chống khủng bố GWOT cùng với số tỵ nạn tìm cách trốn tránh  các tai họa gần đây hơn, kể cả cuộc đảo chánh quân sự ở Honduras, hầu như chỉ một mình Obama đã chính đáng hóa, gây ra thảm họa kinh rợn nhất trong vùng.

Lời nói cũng khó thể nắm bắt phương cách đáp ứng của Hoa Kỳ đối với cuộc khủng hoảng của dân tỵ nạn Syria.

Trở lại câu hỏi mở đầu”Những ai đang ngự trị thế giới?” chúng ta cũng có thể đặt thêm một câu hỏi khác:”Những nguyên tắc và giá trị nào đang ngự trị thế giới?” Câu hỏi nầy cần được ghi đậm nét trong tâm trí các công dân những quốc gia giàu có và hùng cường, luôn an hưởng một di sản tự do, đặc ân, và cơ hội bất thường, nhờ ở các cuộc đấu tranh của những ai đã đến trước họ, và nay đang đối mặt với các lựa chọn mang tính định mệnh về phương cách đáp ứng các thử thách vô cùng quan trọng đối với nhân loại.

 

Nguyễn Trường

Irvine, California, USA

20-5-2016

 

[1] Terrorism specialists Peter Bergen and Paul Cruickshank estimate that the Iraq War “generated a stunning sevenfold increase in the yearly rate of fatal jihadist attacks, amounting to literally hundreds of additional terrorist attacks and thousands of civilian lives lost; even when terrorism in Iraq and Afghanistan is excluded, fatal attacks in the rest of the world have increased by more than one-third.”

[2]  He predicts that” al-Baghdadi’s death would likely pave te way for a rapprochement [with al-Qaeda] producing a combined terrorist force unprecedented in scope, size, ambition and resources.”

[3] Scott Atran, one of the most insightful researchers on jihadi movements, calculates that “the 9/11 attacks cost between $400,000 and $500,000 to execute, whereas the military and security response by the U.S. and its allies is in the order of 10 million times that figure. On a strictly cost-benefit basis, this violent movement has been wildly successful, beyond even Bin Laden’s original imagination, and is increasingly so. Herein lies the full measure of jujitsu-style asymmetric warfare. After all, who could claim that we are better off than before, or that the overall danger is declining?”

[4]  The record, Atran advises, “should inspire a radical change in our counter-strategies.”

[5] Al-Qaeda/ISIS are assisted by Americans who follow their directives: for example, Ted “carpet-bomb ’em” Cruz, a top Republican presidential candidate.

[6] Al-Qaeda/ISIS are assisted by Americans who follow their directives: for example, Ted “carpet-bomb ’em” Cruz, a top Republican presidential candidate. Or, at the other end of the mainstream spectrum, the leading Middle East and international affairs columnist of the New York Times, Thomas Friedman, who in 2003 offered Washington advice on how to fight in Iraq on the Charlie Rose show: “There was what I would call the terrorism bubble… And what we needed to do was to go over to that part of the world and burst that bubble. We needed to go over there basically, and, uh, take out a very big stick, right in the heart of that world, and burst that bubble. And there was only one way to do it… What they needed to see was American boys and girls going house to house from Basra to Baghdad, and basically saying, which part of this sentence don’t you understand? You don’t think we care about our open society, you think this bubble fantasy we’re going to just let it go? Well, suck on this. Ok. That, Charlie, was what this war was about.”

[7]  We should begin by recognizing what careful research has convincingly shown: those drawn to jihad “are longing for something in their history, in their traditions, with their heroes and their morals; and the Islamic State, however brutal and repugnant to us and even to most in the Arab-Muslim world, is speaking directly to that… What inspires the most lethal assailants today is not so much the Quran but a thrilling cause and a call to action that promises glory and esteem in the eyes of friends.” In fact, few of the jihadis have much of a background in Islamic texts or theology, if any.

[8]The best strategy, Polk advises, would be “a multinational, welfare-oriented and psychologically satisfying program… that would make the hatred ISIS relies upon less virulent. The elements have been identified for us: communal needs, compensation for previous transgressions, and calls for a new beginning.” He adds, “A carefully phrased apology for past transgressions would cost little and do much.” Such a project could be carried out in refugee camps or in the “hovels and grim housing projects of the Paris banlieues,” where, Atran writes, his research team “found fairly wide tolerance or support for ISIS’s values.” And even more could be done by true dedication to diplomacy and negotiations instead of reflexive resort to violence

[9] Not least in significance would be an honorable response to the “refugee crisis” that was a long time in coming but surged to prominence in Europe in 2015. That would mean, at the very least, sharply increasing humanitarian relief to the camps in Lebanon, Jordan, and Turkey where miserable refugees from Syria barely survive. But the issues go well beyond, and provide a picture of the self-described “enlightened states” that is far from attractive and should be an incentive to action.

There are countries that generate refugees through massive violence, like the United States, secondarily Britain and France. Then there are countries that admit huge numbers of refugees, including those fleeing from Western violence, like Lebanon (easily the champion, per capita), Jordan, and Syria before it imploded, among others in the region. And partially overlapping, there are countries that both generate refugees and refuse to take them in, not only from the Middle East but also from the U.S. “backyard” south of the border. A strange picture, painful to contemplate.

 

Advertisements