CHIẾN TRANH, NẠN NHÂN VIỆT NAM, VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA HOA KỲ

[Một phóng tác dựa trên bài viết của Nick Turse: “Two Men, Two Legs, and Too Much Suffering — America’s Forgotten Vietnamese Victims]

“Nguyễn Văn Tư”[?] hỏi: “Tôi có thực sự nghiêm chỉnh muốn kể lại câu chuyện của chính ông — câu chuyện của một người Việt sống trong vùng nông thôn hẻo lánh ở Đồng Bằng Sông Cửu Long? Gần 40 năm sau khi các du kích quân đã minh chứng giới hạn quyền lực quân sự của Hoa Kỳ một cách trần trụi trong cuộc Tấn Công Tết Mậu Thân 1968, chúng tôi cùng ngồi trong căn nhà quê mùa, xây bằng gổ, mái tranh, vách đất, và bàn về hai chuẫn mực của quyền lực đó: dốt nát và thiếu trách nhiệm [ignorance and lack of accountability]. Trong khi đàn gà chạy lăng nhăng dưới chân, tôi rùng mình cảm nhận, trong nhiều thập kỷ sắp tới, sẽ có quá nhiều dân Iraq và Afghanistan cũng có nhiều câu chuyện đau đớn để kể lại. Những hồi tưởng tương tự về các cuộc không tạc và pháo kích cũng như các trải nghiệm đầy ác mộng về những gì người Mỹ đã gây ra cho quá nhiều nạn nhân bên ngoài Hoa Kỳ.”

Nguyễn Văn Tư hỏi tiếp: “Ông thực sự muốn phổ biến điều nầy? Ông thực sự dám kể cho mọi người biết tất cả những mất mát và khổ đau của dân tộc Việt ở đây?”

Tôi đã quả quyết với cụ ông dầy dạn 60 tuổi : “Đó chính là lý do tại sao tôi đã đến Việt Nam lần thứ ba trong ba năm liền”.

Tôi nói với ông tôi luôn có ý định tường trình tất cả những gì ông kể cho tôi nghe, những ký ức về các loạt đại pháo hàng ngày trong nhiều thập kỷ trước đây, về các cuộc không kích gần như thường xuyên, về các gia đình nông dân không còn lựa chọn nào khác hơn là phải sinh sống ngay ngoài đồng ruộng và nhà cửa luôn bị liên tục dội bom, về những phụ nữ và trẻ con chết vì bom đạn, vì đói rét …, bởi lẽ quân đội Mỹ và quân đội “đồng minh Nam Việt Nam” đã tịch thu lúa gạo, nhằm ngăn chặn tiềm năng nuôi dưỡng quân du kích.

Sau khi hiểu rõ những chuyện kinh hoàng ông ta đã phải trải nghiệm, tôi ngập ngừng dò hỏi khó khăn lớn nhất ông đã kinh qua trong thời kỳ được biết như cuộc chiến tranh của Mỹ. Tôi chờ đợi Nguyễn Văn Tư nhắc đến người anh, một nông dân đơn thuần đã bị quân đội Nam Việt Nam bắn chết trong những năm đầu của cuộc chiến, khi Hoa Kỳ đang tham gia trong vai trò cố vấn; hay thân phụ đã qua đời sau cuộc chiến, khi đang làm vườn, vì một đầu đạn M-79 [40 ly] từ họng súng phóng lựu, vùi dưới đất đã phát nổ; hay vào một buổi chiều trong năm 1971 khi nghe tiếng rít của trọng pháo và ông đã phải la lớn “Pháo Kích, pháo kích,” báo động cho gia đình vào hầm trú ẩn. Mọi người trong gia đình thoát nạn. Riêng ông lại không. Một đạn pháo 105 ly đã rơi xuống gần ông và phát nổ gần như cắt đứt chân phải của ông.

Nhưng ông đã không nhắc đến các thảm kịch đó. “Trong chiến tranh, khó khăn lớn nhất là thiếu tự do” ông ta nói với tôi. “Chúng tôi đã không có tự do.”

MỘT ĐÒI HỎI GIẢN DỊ

Ở một nơi khác trong vùng Đồng Bằng Cửu Long Giang, Phạm Văn Chấp [?], một nam trung niên tráng kiện 52 tuổi, kể lại một câu chuyện tương tự. Gia đình anh làm nghề nông, nhưng ruộng vườn, canh tác và làm nơi cư trú, luôn bị pháo kích. Anh còn nhớ rõ trong khi đang ngồi phía trước nhà, một căn nhà trệt vây quanh bởi các chuồng gia súc trong khung cảnh điền viên nằm sâu trong vùng quê châu thổ: “Suốt trong 10 năm chiến tranh, toàn vùng luôn bị pháo và không kích nặng nề — hai đến ba lần mỗi ngày; vì vậy, nhiều nhà cửa và cây cối đã bị hủy hoại. Có rất nhiều hố bom chung quanh đây.”

Trong tháng giêng năm 1973, tháng đầu năm vừa rồi, quân đội Mỹ đang lâm chiến ở Việt Nam, Phạm Văn Chấp nghe tiếng đại pháo rít trên không trung và đã phải chạy tìm nơi tránh nạn. Nhưng đá quá muộn! Một đạn đại pháo 105 ly đâm chầm xuống đất, khoảng 4 thước trước mặt anh, mảnh đạn xé nát cả đôi chân. Khi tỉnh dậy trong bệnh viện, anh được biết một trong hai chân đã bị cắt bỏ tận bắp vế. Sau 40 ngày nằm bệnh viện, anh được trả về tư gia, nhưng cũng đã phải đợi mãi cho đến thập kỷ 1990s, mới nhận được một chân giả. Một chân-giả-mới thay thế sau đó, tính đến nay cũng đã tám năm, và còn xa mới sánh kịp các chân giả tiền tiến và vi tính hóa, bằng “titanium và carbon fiber,” của các cựu chiến binh Mỹ. Chân giả bằng gổ của anh tương tự một chân bàn với một móng guốc phía dưới. Anh tâm sự,”thật đã không dễ dàng chút nào cho tôi thiếu mất một chân.”

Khi được hỏi, anh có câu hỏi nào muốn hỏi tôi hay có điều gì muốn nói với người Mỹ, anh đã có ngay câu trả lời nhanh chóng. Anh không đòi hỏi tiền bạc để bù đắp phần nào những đớn đau, khổ lụy anh đã phải gánh chịu. Anh cũng không đòi bồi thường vì đã phải sống trọn cuộc đời còn lại sau khi đã mất hẳn một chân. Không một ý tưởng trả thù, hay thôi thúc kiểu Mỹ “đá đít một người nào đó”[“kick some ass”], như lời của George W. Bush. Không ngay cả một lời xin lỗi. Và lời thỉnh cầu duy nhất của anh là hoàn toàn phải chăng: Anh chỉ đơn thuần xin một chân mới. Không gì khác hơn.

THIẾU TƯ DUY CÓ NGHĨA KHÔNG BAO GIỜ HIỂU CẦN PHẢI XIN LỖI

Tôi cũng hỏi Nguyễn văn Tư như vậy. Và thay vì trả lời, anh lại có câu hỏi của riêng anh: “Người Mỹ đã gây nhiều mất mát và khổ đau cho người Việt trong chiến tranh. Phải chăng hiện nay người Mỹ có cảm nhận hối lỗi?”

Tôi ước muốn tôi có thể trả lời “vâng”. Thay vào đó, tôi nói với anh: hầu hết người Mỹ hoàn toàn không hay biết nổi đau của người Việt, và lúc đó tôi thầm nghĩ, khi nhìn đống khoai vung vãi trên nền nhà, đến thái độ thờ ơ phổ cập của người Mỹ trước số thường dân bị sát hại, thương tích, hay khổ đau trong nhiều phương cách khác ở Iraq và Afghanistan.

Ngay cả những người Việt không mất tay, chân — hay một người thân — vẫn mang theo ký ức nhiều năm tháng đau thương, phiền não, và kinh hoàng, từ “Cuộc Chiến của Mỹ”. Đau thương đỗ vỡ ở đây vẫn còn quá rõ nét. Một bà già nói với tôi ngôi nhà của bà đã bị bom lửa thiêu rụi. Nhiều dân thường nói đến các tàn phá trọn vẹn — nhiều xóm làng tan nát điêu tàn bởi pháo kích, và bom trải thảm; ruộng vườn tan nát và hoang phế vì thuốc khai quang. Một bà già lớn tuổi hơn, nhìn vào ngôi nhà nơi tôi đang phỏng vấn với phập phòng hồi hộp — bà chưa bao giờ thấy bóng dáng người Âu-Mỹ kể từ những ngày tháng chiến tranh — và rõ ràng mất bình tĩnh bởi các ký ức tôi đang gợi lại. Một người khác run rẫy khi nghe người Mỹ đã trở lại, lo sợ rất có thể bị bắt đi, như con trai của bà cách đây gần 40 năm. Những người dân với ký ức các đội tuần tiểu của Mỹ, trang bị vũ khí đầy mình, quấy nhiễu, gây gãy vỡ trong đời sống của họ, lục soát nhà cữa, giết hại ngay cả gia súc. Đối với người dân, tiếng Anh võn vẹn chỉ có một câu tất cả hình như luôn nhớ: “VC, VC”– tiếng lóng của từ “Việt Cộng” với nghĩa xấu; và những người luôn nhớ loại súng và các tên gọi chính thức các vũ khí thời đại của Mỹ — từ bom mìn đến các tiểu liên — không mấy khác người Mỹ hiện nay luôn biết rõ danh hiệu hay tên các môn thể thao và những nhân vật nổi tiếng.

Tôi muốn tôi đã có thể nói với Nguyễn văn Tư: hầu hết người Mỹ đều biết vài điều về tra tấn và dày xéo xứ sở của anh trong suốt cuộc chiến. Tôi ước ao tôi đã có thể nói với anh hầu hết người Mỹ đều quan tâm. Tôi muốn tôi đã có thể nói với anh người Mỹ đều cảm nhận thực sự hối hận về việc người Mỹ đã khủng bố người Việt nhân danh họ, hay một lời xin lỗi sẽ đến và những bồi thường đang trên đường tới nay mai. Nhưng như vậy là tôi đang thực sự dối trá. Rất may, anh đã không hề cật vấn tôi như tôi đã cật vấn anh trong gần một tiếng đồng hồ. Anh không hỏi bằng cách nào người Mỹ có thể không hay biết hay tim xơ cứng đến thế, bằng cách nào họ đã có thể cho phép xứ sở của họ luôn tái diễn xâm lăng các quốc gia khác và để lại phía sau những xứ sở đầy dẫy thây ma và nhiều gia đình, nhiều cuộc đời và nhiều giấc mơ tan vỡ điêu linh. Thay vào đó, anh bình tĩnh và rành mạch trả lời:”Tôi có hai điều muốn nói. Thứ nhất, đã có nhiều hậu quả của chiến tranh và ngay cả ngày nay dân tộc Việt Nam đang vô cùng đau khổ vì chiến tranh; vì vậy, tôi nghĩ chính quyền Mỹ phải làm một cái gì đó để đáp ứng — họ đã gây ra tất cả những mất mát nầy ở đây trong đất nước Việt Nam, và vì vậy, họ phải gánh trách nhiệm. Thứ hai, cuộc phỏng vấn nầy cần phải là bài viết được phổ biến trên báo chí.”

Tôi ngồi đó biết rõ cơ may về điều thứ nhất là vô vọng. Chính quyền Mỹ sẽ không làm điều đó và nhân dân Mỹ đơn thuần không hề biết, nói gì đến đủ quan tâm để buộc chính quyền Mỹ phải làm. Nhưng với vấn đề thứ hai, tôi nói với anh tôi chia sẻ những cảm nghĩ của anh và tôi sẽ làm tận lực.

Nguyễn văn Tư nắm lấy tay tôi để cám ơn và chúng tôi kết thúc cuộc phỏng vấn. Câu chuyện của anh là một phần của một lịch sử bị che đậy, nếu không muốn nói là bị cấm đoán, rất ít người ở Hoa Kỳ biết đến. Đó là câu chuyện viết bằng máu ở Việt Nam, ở Cao Miên, và ở Ai Lao, trong hai thập kỷ 1960s và 1970s, và hiện đang được tiếp tục viết thêm ở Afghanistan và Iraq. Đó là câu chuyện với những hồi mới nối tiếp, bên cạnh các lực lượng quân sự của Hoa Kỳ mỗi ngày điều khiển các xe bọc sắt dọc các đường phố của các dân tộc khác, đạp đổ các cánh cửa của các dân tộc khác, thực thi các cuộc tấn công trong các vùng láng giềng của các dân tộc khác, và chiếm đóng các xứ sở của các dân tộc khác.

Phải mất gần 40 năm để lời nói về những khổ đau của Nguyễn Văn Tư dưới tay người Hoa Kỳ đang rò rĩ trở vào nước Mỹ. Do đó, có lẽ thêm một vài người Mỹ sẽ cảm nhận hối tiếc. Nhưng ai là người sẽ bước ra nhận trách nhiệm về tất cả các khổ đau nầy? Và ai sẽ đem lại cho Phạm Văn Chấp một chân giả mới?

Nguyễn Trường
01-6-2016
Irvine, California, USA

Chú Thích: Xin bấm vào link đính kèm để dọc nguyên bản bằng Anh ngữ.

https://drive.google.com/open?id=1a8wtgyPdc30L0AxYwwmDBxNrq25xOM5FEb1fecGF43Q

Advertisements