CÁC LỰC CẢN VÀ XÁO TRỘN TRONG CÁC QUỐC GIA GIÀU NĂNG LƯỢNG

Hoàn cảnh các xứ giàu tài nguyên năng lượng trên thế giới không luôn mang mầu hồng. Đa số các xứ nầy trước đây thường giàu có, nhờ xuất khẩu dầu lửa và hơi đốt thiên nhiên. Họ đã có đủ khả năng tài trợ nhiều cuộc chiến, các dự án lớn lao, cùng lúc các chương trình phúc lợi đem lại ổn định và hòa bình xã hội.

Ngày nay một số các quốc gia nầy đang phải đối diện với các xáo trộn nội bộ hay ngay cả đang trên bờ vực thẳm, sau khi giá dầu sụt xuống một mức khá thấp và lâu dài mang tính tai họa. Không giống các xứ khác luôn tài trợ chính quyền với hệ thống thuế vụ lũy tiến, chính quyền các quốc gia giàu năng lượng đã trông đợi quá nhiều ở số thu nhập từ dầu lửa và hơi đốt thiên nhiên. Liên Bang Nga, chẳng hạn, lệ thuộc vào số thu nhập từ năng lượng xuất khẩu đến 50% ngân sách; Nigeria, 60%; và Saudi Arabia, 90%.

Khi giá dầu ở mức 100 USD một barrel hay cao hơn nữa, như trường hợp trước năm 2014, chính quyền các xứ nầy có thể đã không gặp phải quá nhiều khó khăn. Nhưng ngày nay, với giá dầu đã sụt xuống dưới mức 50 mỹ kim một barrel khá lâu dài, các chính quyền nầy cũng đã buộc lòng phải giảm bớt công chi, đối đầu với bất bình của quần chúng, và ngay cả với xáo trộn xã hội.

Ở mức đỉnh điểm của vinh quang, các quốc gia giàu năng lượng đã giữ một vai trò quan trọng trên thế giới. Các xứ thành viên OPEC — tổ chức các quốc gia xuất khẩu dầu lửa — có số thu nhập khoảng 821 tỉ USD, chỉ trong năm 2013. Với nhiều tiền mặt, các xứ nầy đã có thể gây ảnh hưởng đối với các xứ khác qua các chương trình bảo trợ và viện trợ.

Venezuela, chẳng hạn, đã tìm cách chống lại ảnh hưởng của Hoa Kỳ trong vùng Mỹ Latin qua Liên Minh Bolivia của các Dân Tộc Mỹ Châu [Bolivian Alliance for the Peoples of Our America — ALBA], một mạng lưới hợp tác của hầu hết các chính quyền tả phái.

Saudi Arabia đã bành trướng ảnh hưởng với chính sách tài trợ các nỗ lực của giới tăng lữ Wahhabi, siêu bảo thủ, thiết lập madrassas [các viện hàn lâm] trong khắp thế giới Hồi Giáo.

Nga, dưới thời Vladimir Putin, đã sử dụng tài nguyên dầu lửa phong phú để xây dựng và tân trang lực lượng quân sự, phần lớn đã rệu rã tiếp theo sau sự sụp đổ của Liên Bang Xô Viết.

Các xứ thành viên nhỏ bé hơn trong câu lạc bộ dầu lửa như Angola, Azerbaijan, và Kazakhstan đã có thói quen tiếp đón các tổng thống và thủ tướng các quốc gia nhập khẩu dầu lửa quan trọng thường đến viếng thăm thân hữu.

Đã hẳn, đó là lúc trước, và nay đã đổi khác. Trong lúc các xứ nầy vẫn còn quan trọng, điều làm các vị tổng thống và thủ tướng âu lo hiện nay là khả năng bạo động của quần chúng, hay ngay cả sụp đổ, ngày một gia tăng.

Venezuela, chẳng hạn, từ lâu luôn là kẻ thù hăng say đối với chính sách của Hoa Kỳ trong vùng Mỹ Latin, nhưng ngày nay là một xứ với tiềm năng hỗn loạn nội bộ giữa các phe hậu thuẩn và chống đối chính quyền hiện hữu. Cùng loại xung đột và rối reng cũng rất dễ xẩy ra trong các xứ sản xuất dầu lửa như Algeria và Nigeria — nơi tiềm năng bạo động, khủng bố, hỗn độn ngày một lên cao.

Vài xứ sản xuất dầu lửa, như Venezuela và Iraq, đã có vẻ đang tiến dần đến bờ suy sụp. Vài xứ khác như Nga và Saudi Arabia, cũng đã buộc lòng phải tái định hướng kinh tế với hy vọng tránh khỏi các hậu quả như thế trong tương lai.

Dù cho trình độ bất trắc là gì đi nữa, tất cả các quốc gia nói trên cũng đang trải nghiệm các khó khăn kinh tế, đặt cấp lãnh đạo dưới áp lực ngày một lớn phải thay đổi hướng tiến một cách nào đó trong những hoàn cảnh khá ảm đạm — nếu không, cũng sẽ phải đối diện với các hậu quả đen tối.

MÔ HÌNH KINH DOANH ĐỔ VỠ

Không giống các quốc gia khác, các xứ giàu năng lượng, do số phận của các định chế quản lý chủ đạo quốc nội, luôn kết nối sâu xa với các chu kỳ thịnh vượng-khủng hoảng trong kinh tế dầu lửa thế giới. Những thách thức các xứ nầy phải đối diện còn gia tăng bởi các ràng buộc chặt chẽ bất thường giữa giới lãnh đạo chính trị và các giới chức quản lý cao cấp trong các kỹ nghệ dầu lửa và hơi đốt thiên nhiên quốc doanh. Trên bình diện lịch sử, guồng máy lãnh đạo đã cài đặt các đồng minh thân cận hay ngay cả các thành viên gia tộc, vào những vị trí kỹ nghệ then chốt, nhằm đảm bảo bộ máy kiểm soát liên tục của chính quyền, và trong nhiều trường hợp, cũng để làm giàu cho cá nhân.

Ở Nga, chẳng hạn, guồng máy quản lý Gazprom, công ty hơi đốt thiên nhiên do nhà nước kiểm soát, hầu như không thể phân biệt với giới lãnh đạo cao cấp trong điện Cẩm Linh, cả hai nhóm cùng chịu trách nhiệm trước Tổng Thống Putin. Cùng một cơ chế mẫu mực được áp dụng ở Venezuela, nơi chính quyền nắm quyền kiểm soát các công ty do nhà nước sỡ hữu, Petroleos de Venezuela, S.A. [PdVSA], với dây chuyền chỉ huy chặt chẽ, và ở Saudi Arabia, nơi hoàng gia giám sát mọi hoạt động của Saudi Aramco cũng do nhà nước sở hữu.

Tuy vậy, trong năm 2016, một điều cuối cùng cũng đã rõ ràng: mô hình doanh thương dành cho các nhà-nước-công-ty-hóa đã phá sản. Giả thiết căn bản nhất bên sau mô hình doanh thương nầy — số cầu dầu lửa toàn cầu, liên tục vượt quá số cung dầu lửa của thế giới, luôn bảo đảm những mức giá dầu cao trong tương lai có thể tiên liệu — không còn đứng vững. Thay vào đó, trong những gì đối với bất cứ nhà nước-dầu lửa nào là dạng thức ác mộng đảo ngược của mô hình nói trên, số cung, không phải số cầu, đã vượt lên cao hơn, thị trường sẽ tràn ngập với năng lượng hóa thạch.

Đa số các nhà phân tích, kể cả các quan chức trong Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế [IMF], hiện tin: những gia tăng trong hiệu quả khai thác năng lượng, sự lan tràn các nguồn năng lượng thay thế ngày một rẻ tiền [đặc biệt là năng lượng gió và năng lượng mặt trời], tỉ suất tăng trưởng kinh tế trên toàn thế giới ngày một chậm lại, và âu lo biến đổi khí hậu … sẽ tiếp tục làm dịu hay giảm bớt số cầu năng lượng hóa thạch trong những năm trước mặt. Cùng lúc, kỹ nghệ dầu, nay được trang bị với kỹ thuật “fracking” và nhiều kỹ thuật khai thác tiền tiến khác, sẽ tiếp tục làm gia tăng số cung. Đó là một phương thức khiến giá dầu sụt giảm.

Trong thực tế, một số ngày một gia tăng các nhà phân tích tin tưởng: số cầu dầu lửa toàn cầu trong một tương lai không xa sẽ đạt đỉnh điểm và bắt đầu sụt giảm trong dài hạn, nguyên nhân một trữ lượng ngày một lớn sẽ bị bỏ lại dưới lòng đất. Đối với các nhà nước dầu lửa, tất cả những điều đó có nghĩa một nổi đau dai dẳng trừ phi có thể tìm được một mô hình kinh doanh mới một cách nào đó cơ sở trên môi trường giá-dầu-thấp-thường-trực.

Các nhà nước nầy không thống nhất trong cả hai ý muốn và khả năng đáp ứng thực tế mới nầy một cách hữu hiệu. Một vài nhà nước đang quá thiết tha với mô hình doanh thương hiện hữu của chính họ [và hệ thống lãnh đạo đính kèm] để cứu xét các thay đổi mang nhiều ý nghĩa; một vài nhà nước khác ngày một thẩm thấu nhu cầu phải làm một điều gì đó, đang tìm thấy các nút ngăn chặn mang tính cơ cấu trên lối cần đi hầu như không thể vượt qua; và nhóm thứ ba, nhận diện được nhu cầu thay đổi không thể làm ngơ, đang cố gắng hoàn toàn tái thẩm định trọn vẹn các nền kinh tế dầu lửa của chính họ.

Trong những tuần lễ gần đây, các ví dụ điển hình của cả ba nhóm — Venezuela cho nhóm thứ nhất, Nigeria cho nhóm thứ hai, và Saudi Arabia cho nhóm thứ ba – đã dần dà xuất hiện trên các kênh truyền thông.

VENEZUELA: Một QUỐC GIA TRÊN BỜ VỰC THẲM

Venezuela may mắn có số trữ lượng dầu lửa đã được xác nhận lớn nhất thế giới [the world’s largest proven reserves of petroleum] — khoảng 298 tỉ barrels. Trong các thập kỷ vừa qua, quá trình khai thác số tài nguyên hóa thạch khổng lồ nầy đã đem lại thịnh vượng lớn lao cho các công ty nước ngoài cũng như cho giới thượng lưu Venezuela.

Sau khi đảm nhiệm chức vụ tổng thống trong năm 1999, Hugo Chavez đã tìm cách dành phần lớn tài phú quốc gia cho các tầng lớp lao động và nghèo túng của Venezuela qua chính sách buộc các xí nghiệp nước ngoài phải gia nhập đối tác với xí nghiệp quốc doanh PdVSA và hướng doanh lợi của xí nghiệp nầy đến các chương trình chi tiêu của chính quyền. Hàng tỉ mỹ kim đã được sử dụng vào các “công trình” giúp hàng triệu dân nghèo Venezuela ra khỏi cảnh nghèo khó. Trong năm 2002, khi giới quản lý lâu ngày của công ty chống lại các chương-trình-chính-sách nầy, Chavez đã chỉ đơn thuần thay thế họ với các đảng viên trung kiên và tiếp tục các chương trình và kế hoạch của nhà nước.

Tiếp theo sau đợt loại trừ đội ngũ quản lý nguyên thủy, số dầu sản xuất bắt đầu suy giảm. Với giá thị trường trên 100 mỹ kim một barrel, tình trạng lúc đầu hình như không mấy khác và số thu nhập rót vào ngân khố quốc gia và các công trình giúp giới nghèo vẫn tiếp tục. Tuy nhiên, điều Chavez đã quên làm là chuẩn bị một quỹ dự phòng “những ngày mưa” của nhà nước. Rất ít tiền thu nhập từ dầu được dành trong “quỹ tài sản quốc gia dự phòng những lúc trái gió trở trời”, hay đầu tư vào các ngành kỹ nghệ có thể kịp thời cung cấp các dòng chảy lợi tức phi-hóa-thạch cho chính quyền.

Chung cuộc, khi giá dầu đã bắt đầu sụt giảm vào mùa thu 2014, người kế nhiệm Chavez, Nicolas Maduro, đã phải cùng lúc đối diện với ba tai họa: số thu nhập dành cho các chường trình phúc lợi xã hội sụt giảm; ngân khoản tiết kiệm quá hiếm hoi; và không một nguồn lợi tức thay thế khả dụng. Đã hẳn, khi tài nguyên cạn kiệt lan rộng, nhiều đảng viên của Hugo Chavez trước đây nay đã mất niềm tin vào chế độ, và trong cuộc bầu cử quốc hội trong tháng 12 ngay sau đó, đã dồn phiếu cho các ứng cử viên đối lập để thay thế.

Ngày nay, Venezuela là quốc gia đang sống trong “tình trạng chính thức được tuyên bố là ‘khẩn cấp'”, chia rẽ phân tán trên bình diện chính trị, đang trải nghiệm bạo động tranh giành thực phẩm, và có thể đang ở ngay trên bờ sụp đổ. Theo IMF, kinh tế Venezuela đã co rút 5,7% trong năm 2015, và đang chờ đợi giảm thiểu khoảng 8% trong năm nay — nghiêm trọng hơn bất cứ quốc gia nào khác trên hành tinh. Lạm phát ngoài vòng kiểm soát, thất nghiệp và tội phạm tăng vọt, và chút ít ngân khỏan tồn đọng trong trương-mục-dự-phòng-ngày-mưa phần lớn cũng đã chi tiêu hết. Trung Quốc là quốc gia duy nhất còn sẵn sàng cho vay tiền để trả nợ. Nếu Bắc Kinh quyết định đình hoản khi nợ đáo hạn trong mùa thu sắp tới, Venezuela có thể sẽ phải đối diện với vỡ nợ. Các lãnh đạo đối lập trong Quốc Hội đang tìm cách truất phế Madura và thực thi các cải cách khác nhau, nhưng chính quyền cũng đang sử dụng quyền kiểm soát các tòa án để chận đứng, và Venezuela vẫn trong tình trạng tê liệt.

NIGERIA LIÊN TỤC RỐI LOẠN

Nigeria chấp hữu các trữ lượng dầu lửa và hơi đốt thiên nhiên lớn nhất trong Sub-Saharan Africa. Sự khai thác các trữ lượng nầy từ lâu đã chứng tỏ vô cùng hữu lợi cho các công ty nước ngoài như Royal Dutch Shell và Chevron, cũng như cho giới thượng lưu Nigeria. Tuy nhiên, rất ít tài phú quốc gia được rò rĩ xuống cho những ai sinh sống trong vùng Niger Delta phía Nam, nơi hầu hết dầu và hơi đốt được sản xuất. Nạn chống đối chính quyền trung ương ở thủ đô Abuja, nơi thu nhận các dòng lợi tức từ năng lượng, từ lâu luôn khá mạnh trong vùng Delta, thỉnh thoảng cũng dẫn tới những bùng phát bạo lực. Các chính quyền liên bang kế tiếp đã hứa hẹn một tái phân phối các số thu nhập công bằng hơn, nhưng cũng vẫn chỉ là một lời hứa.

Từ 2006 đến 2009, Nigeria đã bị tàn phá bởi sự trỗi dậy, cầm đầu bởi Phong Trào Giải Phóng vùng Niger Delta, một nhóm chiến đấu tìm cách tái định hướng các số thu nhập từ dầu đến các tiểu bang nghèo khó phía Nam Nigeria. Năm 2009, khi Tổng Thống Umara Musa Yar’Adua tuyên bố đại xá và cấp phát tiền mặt hàng tháng cho quân phiến loạn, cuộc trỗi dậy đã giảm dần. Người kế nhiệm ông ta, Goodluck Jonathan, xuất thân từ miền Nam, hứa sẽ tôn trọng lệnh ân xá và chuyển thêm tiền thu nhập từ năng lượng cho vùng nầy.

Đôi lúc, giá dầu cao đã cho phép Jonathan thể hiện vài lời hứa, ngay cả trong khi các phần tử thượng lưu lâu đời ở Abuja đã luôn bỏ túi một bách phân đáng kể lợi tức thu nhập từ dầu lửa của xứ sở. Tuy nhiên khi giá dầu bắt đầu sụt giảm nhanh, Jonathan cũng đã phải đương đầu với các thách thức ngày một lớn. Tham nhũng lan tràn đã khiến dân chúng chống lại chính quyền, hàng ngũ tân tòng theo nhóm Boko Haram gia tăng — phong trào khủng bố lúc một lớn mạnh trong phía Bắc xứ sở; tiền bạc dành cho quân nhân trong quân đội Nigeria lọt vào túi những sĩ quan cao cấp, phương hại cho nỗ lực đối phó với các thành phần phản loạn. Trong các cuộc bầu cử toàn quốc trong năm trước, Muhammadu Buhari, một cựu tướng lãnh quyết tâm trừng trị tham nhũng, cứu nguy kinh tế, và đánh bại Boko Haram, đã giành lại ghế tổng thống từ Jonathan.

Kể từ khi đảm nhiệm chức vụ tổng thống, Buhari chứng tỏ đã nắm vững các nhược điểm cơ cấu của Nigeria, nhất là quá lệ thuộc vào số thu nhập từ dầu lửa, cùng với quyết chí giải quyết mọi khó khăn. Như đã hứa, Buhari đã phát động chiến dịch nghiêm chỉnh bài trừ tham nhũng thường lan tràn trong các quốc gia giàu năng lượng, sa thải các quan chức bị buộc tội công khai tham nhũng. Cùng lúc, Buhari đã tăng cường áp lực quân sự đối với phong trào khủng bố Boko Haram, lần đầu tiên ngăn chặn các hoạt động khủng bố dã man của nhóm nầy. Quan trọng hơn hết, Buhari đã loan báo các kế hoạch đa dạng hóa kinh tế, chú trọng vào nông nghiệp và các kỹ nghệ phi-hóa-thạch, những kế hoạch, nếu được thực thi nghiêm chỉnh, có thể giúp giảm thiểu trình độ lệ thuộc ngày một tai họa vào dầu lửa.

Tuy nhiên, bình tĩnh để xét đoán, Nigeria vẫn rất cần các số thu nhập từ dầu lửa, phần lợi tức quan trọng nhất trong ngân sách. Thực tế nầy có nghĩa trong môi trường giá dầu thấp hiện nay, Nigeria lúc một có ít tiền để đối phó với Boko Haram, tài trợ các phúc lợi xã hội, hay thể hiện các chương trình đầu tư thay thế. Vả chăng, Buhari đã bị lên án thiếu công bằng hay nặng tay đối với dân chúng phía Nam trong chiến dịch bài trừ tham nhũng, khởi động không những các bất bình mới trong vùng Delta mà còn gia tăng hàng ngũ một nhóm chiến binh mới — nhóm Niger Delta Avengers — đang đe dọa sản lượng dầu lửa. Vào ngày 4-5-2016, Avengers đã tấn công một giàn khoan dầu ngoài khơi do Chevron và Nigerian National Petroleum Corporation sở hữu, buộc hai công ty nầy phải ngưng sản xuất khoảng 90.000 barrels mỗi ngày. Tính thêm biến cố nầy vào các cuộc tấn công của các nhóm khác vào cơ sở hạ tầng dầu lửa, chính quyền Nigeria đã thất thu 1 tỉ mỹ kim chỉ riêng trong tháng 5-2016. Nếu công tác sửa chữa không hoàn tất kịp thời, Nigeria còn có thể thất thu một ngạch số tương đương trong tháng 6-2016. Nigeria vẫn còn là một quốc gia bên bờ vực thẳm các nguy cơ khốn cùng và tai họa, và có rất ít giải pháp thay thế khả dụng.

SAUDI ARABIA: ĐANG TÌM KIẾM MỘT VIỄN KIẾN MỚI

Với trữ lượng dầu lửa lớn thứ hai trên thế giới, Saudi Arabia cũng là quốc gia sản xuất hàng đầu trên hành tinh, bơm 10,2 triệu barrels mỗi ngày. Từ nguyên thủy, những trữ lượng năng lượng khổng lồ sở hữu bởi tập đoàn các công ty Hoa Kỳ cùng hoạt động dưới chiếc dù chung Arabian-American Oil Company [Aramco]. Tuy nhiên, trong thập kỷ 1970s, Aramco đã được quốc hữu hóa và nay do nhà nước Saudi — có nghĩa, hoàng gia Saudi — sở hữu. Ngày nay, đó là công ty có giá trị lớn nhất thế giới, trị giá, theo vài ước tính, lên khoảng 10.000 tỉ mỹ kim [gấp 10 lần công ty Apple], và vì vậy, là nguồn tài phú hầu như không thể tưởng tượng đối với hoàng gia Saudi.

Trong nhiều thập kỷ, giới lãnh đạo Saudi Arabia đã theo đuổi một kế hoạch doanh thương kinh tế-chính trị kiên định: bán càng nhiều dầu càng tốt và sử dụng số thu nhập để làm giàu cho số đông hoàng tử và công chúa của vương quốc; cung cấp dồi dào các phúc lợi xã hôi cho thần dân, do đó, tránh mọi bất ổn định của quần chúng loại “Mùa Xuân Arab”; tài trợ giới tăng lữ Wahhabi nhằm bảo đảm lòng trung thành với chế độ; viện trợ cho các nhà nước đồng minh trong vùng; và để dành tiền dự phòng những thời kỳ “trái gió trở trời” giá dầu xuống thấp.

Gần đây giới lãnh đạo Saudi đã nhận diện kế hoạch nầy không còn có thể duy trì dài lâu. Trong năm 2016, lần đầu tiên trong ký ức hiện đại, ngân sách Saudi đã dịch chuyển vào lãnh địa khuy khiếm và hoàng gia đã phải cắt xén không những số trợ cấp thông thường mà ngay cả các chương trình phúc lợi xã hội dành cho thần dân đại chúng.

Không như người Venezuela hay người Nigeria, hoàng gia Saudi luôn gửi đủ tiền vào quỹ tài phú tối thượng [sovereign wealth fund] của Saudi Arabia, đủ để thanh toán số chi tiêu khuy khiếm [deficit spending] ít ra trong vài năm. Tuy nhiên, hiện giờ hoàng gia đã chi tiêu với một nhịp độ lớn lao phi thường, một phần để tài trợ cuộc chiến tàn nhẫn và vô bổ ở Yemen. Vào một thời điểm nào đó, hoàng gia sẽ phải cắt xén lớn lao các chi tiêu của chính quyền. Với một dân số trẻ — 70% công dân thuộc lứa tuổi dưới 30 — và từ lâu, hoàn toàn lệ thuộc vào “tiền cho không” [handouts] của chính quyền, những động thái đó có thể, theo quan điểm của nhiều nhà phân tích, dẫn đến bất ổn định dân sự rộng khắp.

Trên bình diện lịch sử, các nhà lãnh đạo Saudi thường khởi động mọi thay đổi khá chậm chạp. Nhưng gần đây, trái với mọi mong đợi thường tình, hoàng gia đã khởi động những bước cấp tiến nhằm chuẩn bị xứ sở cho một chuyển tiếp đến những gì đang được gọi là “một nền kinh tế hậu-dầu-lửa”[a post-petroleum economy].

Ngày 25-4-2016, Thái Tử đầy uy quyền [Deputy Crown Prince] Mohammed bin Salman, đã tiết lộ “Viễn Kiến Saudi 2030,” [Saudi Vision 2030], một kế hoạch đôi chút mờ ảo nhằm đa dạng hóa và canh tân hóa kinh tế của vương quốc.

Prince Mohammed cũng đã tiết lộ Saudi Arabia sẽ sớm phát hành cổ phiếu công trong Saudi Aramco, với ý định gầy vốn lớn lao cần thiết để đầu tư và thiết kế các kỹ nghệ Saudi và các dòng thu nhập phi-hóa-thạch.

Vào ngày 7-5-2016, hoàng gia cũng đã bất thần chấm dứt nhiệm vụ của vị bộ trưởng dầu lửa kỳ cựu, Ali al-Naimi, và thay thế với người cầm đầu Saudi Aramco, Khalid al-Falih, một gương mặt luôn tuân phục Prince Mohammed. Chức vụ của Falih cũng đổi thành bộ trưởng năng lượng, kỹ nghệ, và tài nguyên khoáng sản, một tín hiệu từ Quốc Vương [theo dự đoán của các chuyên gia] về quyết tâm vượt khỏi sự lệ thuộc vào dầu lửa như nguồn lợi tức duy nhất.

Đây là tín hiệu vô tiền khoáng hậu, đến độ không thể tiên đoán liệu hoàng gia Saudi trong thực tế có đủ khả năng thành công với “Viễn Kiến Saudi 2030”, nghiêm chỉnh vượt ra khỏi nền tảng dầu lửa. Đã hẳn vẫn còn rất nhiều chướng ngại, kể cả các phần tử hoàng gia khả dĩ ganh tị khác có thể đẩy Prince Mohammed [và viễn kiến của ông] qua một bên khi vua cha hay Thái Thượng Hoàng Salman, nay tuổi đã bát thập, rời khỏi sân khấu. [Nhiều tin đồn: Vài phần tử trong hoàng gia đang ganh tức nhịp độ thăng tiến như sao băng của vị hoàng tử mới 31 xuân xanh].

Tuy nhiên, những lời tuyên bố với ấn tượng sâu sắc của Prince Mohammed về nhu cầu đa dạng hóa kinh tế của vương quốc chắc cũng đang chứng tỏ ngay cả Saudi Arabia — đệ-nhất-dầu-lửa-thế-giới — cũng đã phải công nhận một loại căn cước mới nay đang là một điều cần thiết.

TÁC ĐỘNG ĐỐI VỚI TƯƠNG LAI NHÂN LOẠI

Bạn có thể không sinh sống trong một xứ giàu năng lượng, nhưng điều đó không có nghĩa bạn không chịu tác động trong quá trình tiến hóa của hình thức sinh hoạt chính trị độc đáo nầy. It ra từ cú “sốc dầu lửa” 1973, khi các xứ thành viên OPEC-Á Rập loan báo “tẩy chay dầu lửa” [oil boycott] đối với Hoa Kỳ vì người Mỹ đã dính líu trong “Cuộc Chiến Yom Kippur,” các xứ nầy đã giữ một vai trò “ngoại cỡ” [outsized] trên sân khấu chính trị thế giới, gây xáo trộn trong các quan hệ quốc tế, và — trong vùng Trung Đông Nới Rộng — tự mình [và khả năng tài chánh của mình] dính dấp vào mọi xung đột từ Chiến Tranh Iran-Iraq 1980-1988 đến các cuộc chiên ở Yemen và Syria hiện nay.

Hậu thuẩn nhiệt thành và tài trợ dành cho các đối tượng hay lý tưởng ưa thích — dù đó là Wahhabism và các nhóm thánh chiến đồng minh [Saudi Arabia], “anti-Westernism” [“chống chủ nghĩa Tây Phương” (Nga)], hay khả năng thượng tồn của chế độ Assad ở Syria [Iran] — đã đưa đến xáo trộn và cơ cực khắp nơi. Điều đó chưa hẳn sẽ là một bi kịch nếu khả năng thiếu ngân quỹ buộc các nhà nước liên hệ phải rút khỏi các nỗ lực thuộc loại nầy. Nhưng với vai trò trung tâm của các nhiên liệu hóa thạch đối với thế giới trong thế kỷ vừa qua hay hơn nữa, sự xáo trộn có thể tiếp diễn sau đó trong trung tâm dầu lửa của hành tinh, từ giá dầu thấp và số cung dồi dào, cũng có thể đưa đến những bi kịch mới không thể tiên liệu của riêng mình.

Và các ác mộng lớn nhất đang lảng vãng, không phải trong bất cứ điều gì ở đây, nhưng trong sự thiếu khả năng của các nhà nước nầy và những nhà nước được họ hỗ trợ, sớm kịp thời tự giải phóng khỏi sự lệ thuộc vào năng lượng hóa thạch. Nhìn về tương lai, sự cáo chung của các “nhà nước dầu lửa”, như chúng ta đã biết, đã có thể có một tác động sâu sắc đến cuộc đấu tranh nhằm tránh né tai họa biến đổi khí hậu. Mặc dù các xứ nầy không phải là “các xứ chính yếu” phải chịu trách nhiệm thực sự tiêu thụ các năng lượng hóa thạch — đó là điều chúng ta, trong các xứ nhập khẩu dầu lửa, phải gánh chịu — vai trò then chốt của họ trong việc cung cấp năng lượng cho nền kinh tế dầu lửa toàn cầu đã khiến họ một phần lớn đã đề kháng các nỗ lực quốc tế giảm thiểu khí thải carbon dioxide. Trong khi họ đang tìm cách sửa chữa mô hình doanh thương đã đỗ vỡ hay sụp đổ dưới sức nặng của các thất bại, chúng ta chỉ có thể hy vọng con đường họ đang theo đuổi sẽ lôi kéo theo rất ít lệ thuộc vào xuất khẩu dầu lửa cũng như một quyết tâm tăng tốc quá trình kết thúc kỷ nguyên năng lượng hóa thạch, và nhờ đó, giảm thiểu di sản của tai họa khí hậu.

Nguyễn Trường
Irvine, California, USA
06-6-2016

Advertisements