BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU,VŨ KHÍ NGUYÊN TỬ, VÀ THƯỢNG TỒN CỦA NHÂN LOẠI

 

Bản Tin của các Khoa Học Gia Nguyên Tử trong tháng giêng năm 2015 đã cho biết:  Đồng Hồ Ngày Tận Thế lừng danh đã được điều chỉnh đến ba phút trước nửa đêm — mức đe dọa chưa bao giờ đạt đến trong vòng ba mươi năm vừa qua. Bản Tin — giải thích quá trình dịch chuyển ngày một gần hơn đến thảm họa — đã đơn cử hai nguy cơ đang đe dọa khả năng thượng tồn của nhân loại:  “vũ khí hạt nhân” và “biến đổi khí hậu ngoài vòng kiểm soát.”

Bản Tin cũng lên án các lãnh đạo thế giới “đã chểnh mãng không hành động với tốc độ  hay kích cỡ cần thiết để bảo vệ nhân loại trước thảm họa tiềm năng; đe dọa sinh mạng của mọi người trên Địa Cầu vì đã  không chu toàn nhiệm vụ quan trọng nhất của chính mình; cũng như đã không bảo đảm và duy trì tính lành mạnh và sức sống của văn minh nhân loại.”[1]

Kể từ đó, theo các khoa học gia nguyên tử,  thế giới ngày một  có đủ lý do chính đáng để điều chỉnh kim đồng hồ ngay cả gần hơn nữa với Ngày Tận Thế.

BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

Vào cuối năm 2015, các lãnh đạo thế giới đã họp mặt ở Paris tìm giải pháp cho vấn đề chính yếu “biến đổi khí hậu ngoài vòng kiểm soát,” [unchecked climate change.] Mỗi một ngày trôi qua, nhân loại đã có thêm bằng chứng: cuộc khủng hoảng lúc một nghiêm trọng hơn.

Lựa chọn một cách gần như tình cờ, ngay trước ngày khai mạc hội nghị Paris, Phòng Thí Nghiệm Jet Propulsion của NASA đã phổ biến một nghiên cứu vừa gây ngạc nghiên vừa mang tính báo động cho các khoa học gia đang nghiên cứu băng đá trên Bắc Cực.

Cuộc nghiên cứu chứng tỏ:  tảng băng khổng lồ Greenland glacier, Zachariae Isstrom, “đã tách khỏi vị trí băng đá ổn cố  trong năm 2012 và đã bước qua giai đoạn triệt thoái ngày một tăng tốc,” một biến chuyển bất ngờ và mang tính báo động. Tảng băng “chứa một lượng nước đủ để nâng cao mực nước biển toàn cầu lên hơn 18 inches [46 centimetres] khi hoàn toàn tan lõng. Và hiện nay, tảng băng đang trong tình trạng kiêng khem, tan chảy 5 tỉ tấn khối lượng mỗi năm. Tất cả khối lượng nước đó đều tuôn trào vào Bắc Đại Tây Dương.”[2]

Tuy nhiên, vẫn có rất ít hy vọng các lãnh đạo thế giới ở Paris có thể “hành động với tốc độ hay kích cỡ thiết yếu cho khả năng bảo vệ nhân loại trước thảm họa  tiềm năng.” Và ngay cả nếu nhờ một  phép lạ nào đó họ đã làm được, thực tế cũng chỉ có thể có  một giá trị hạn chế, vì những lý do rất đáng lo ngại sâu sắc.

Khi thỏa ước đã được chấp thuận ở Paris, Bộ Trưởng Ngoại Giao Pháp, Laurent Fabius , người đứng ra tổ chức hội nghị, đã loan báo thỏa ước có “giá trị pháp lý ràng buộc” [legally binding]. Nhưng đó cũng chỉ có thể là hy vọng, và  vẫn còn khá nhiều trở ngại cần phải cẩn trọng lưu ý.

Theo phúc trình sâu rộng của giới truyền thông về hội nghị Paris,  những tin tức quan trọng nhất trong những hàng ẩn dấu ở gần cuối bài phân tích dài của báo New York Times: “Theo truyền thống, các nhà thương thuyết đã tìm cách soạn thảo một thỏa ước ràng buộc trên bình diện pháp lý cần được chính quyền các quốc gia tham dự chuẩn y để có hiệu lực. Nhưng cũng chẳng có cách gì để đạt được trong trường hợp nầy — chỉ vì Hoa Kỳ. Một thỏa ước có thể yểu tử khi đến Điện Capitol Hill mà không hội đủ đa số phiếu hai-phần-ba [2/3] đòi hỏi bởi Thượng Viện do đảng Cộng Hòa kiểm soát. Vì vậy, các kế hoạch tự nguyện đang thay thế các mục tiêu cưỡng bách từ trên đưa xuống.” Và các kế hoạch tự nguyện là một bảo đảm của thất bại.[3]

“Chỉ vì Hoa Kỳ!”  Hay rõ ràng hơn, chỉ vì Đảng Cộng Hòa, một đảng hiện đang trở thành một nguy cơ thực sự đối với khả năng thượng tồn phải chăng của nhân loại.

Những kết luận được nhấn mạnh trong một bài khác của báo Times về thỏa ước Paris. Vào cuối một câu chuyện dài ca ngợi sự chu toàn, bài viết ghi nhận hệ thống do hội nghị thiết kế “lệ thuộc nặng nề vào quan điểm của các nhà lãnh đạo thế giới tương lai, những vị sẽ thực thi những chính sách này.

Ở Hoa Kỳ, tất cả và mỗi ứng cử viên tổng thống của đảng Cộng Hòa trong năm 2016, đã công khai nghi ngờ hoặc phủ nhận khoa học biến đổi khí hậu, và đều tuyên bố chống đối các chính sách biến đổi khí hậu của Obama.

Ở Thượng Viện, Mitch McConnell, lãnh đạo Cộng Hòa phối hợp nỗ lực lên án nghị trình biến đổi khí hậu của Obama, đã tuyên bố: Trước khi các đối tác quốc tế của tổng Thống mở rượu sâm banh, họ cần nhớ đây là thỏa ước không thể đạt được, căn cứ trên kế hoạch năng lượng quốc nội có lẽ bất hợp pháp — phân nửa trong tổng số các tiểu bang đang đưa ra tòa đòi chận đứng, và Quốc Hội cũng đã bỏ phiếu loại bỏ.”[4]

Cả hai đảng đều đã dịch chuyển về phía hữu trong suốt kỷ nguyên tân tự do của thế hệ quá khứ. Phe “Dân Chủ dòng chính” nay phần lớn không mấy khác các thành phần “Cộng Hòa ôn hòa” trước đây. Trong khi đó, Đảng Cộng Hòa phần lớn đã trôi dạt ra khỏi quang phổ, trở thành những gì hai nhà phân tích chính trị bảo thũ  đáng kính, Thomas Mann và Norman Ornstein, gọi là thành phần quá khích hầu như đã từ bỏ chính trị đại nghị bình thường. Với khuynh hướng mới, sự nối kết của Đảng Cộng Hòa với giới tài phiệt và đặc quyền đã trở thành cực đoan đến mức các chính sách theo đuổi không còn có thể lôi cuốn được cử tri và đã phải tìm kiếm một nền tảng cử tri hậu thuẩn mới, cơ sở trên những khuynh hướng khác:  những người dễ bị thuyết phục bởi những thành phần mị dân hoặc cực đoan.

Trong những năm gần đây, phe Cộng Hòa truyền thống đã thành công dẹp tắt tiếng nói của giới cử tri  do họ chi phối. Nhưng nay không còn nữa.  Vào cuối năm 2015, phe Cộng Hòa truyền thống đã biểu lộ ngày một mất can đảm và  tuyệt vọng vì đã mất hết khả năng  khi cơ sở và các lựa chọn  của họ đã vượt khỏi vòng kiểm soát.

Các giới chức Cộng Hòa dân cử và các ứng cử viên tổng thống năm 2016 đã công khai chứng tỏ lập trường chống đối các cuộc thương nghị ở Paris, cũng như từ chối ngay cả tham gia vào quá trình tranh luận. Cả ba ứng cử viên dẫn đầu các cuộc thăm dò lúc đó  — Donald Trump, Ted Cruz, và Ben Carson — đã lựa chọn lập trường của đa số tín đồ Phúc âm:  con người không thể có tác động nào đến hiện tượng hâm nóng toàn cầu, nếu thực sự có hiện tượng nầy.

Các ứng cử viên khác cũng bác bỏ hành động của chính quyền đối phó với cùng vấn đề. Ngay sau khi Obama nói chuyện ở Paris, hứa hẹn Hoa Kỳ sẽ giữ vai trò tiên phong tìm kiếm hành động toàn cầu, Quốc Hội do phe Cộng Hòa chiếm đa số khống chế đã biểu quyết nhận chìm các nguyên tắc cắt giảm khí thãi các-bon của Cơ Quan Bảo Vệ Môi Trường. Như báo chí đã tường trình, đây là thông điệp thách thức gửi đến hơn 100 lãnh đạo thế giới: Tổng thống Hoa Kỳ không được sự hậu thuẩn đầy đủ của chính quyền đối với chính sách biến đổi khí hậu”– một lời  phát biểu quá hời hợt nhẹ nhàng. Trong khi đó, Lamar Smith, lãnh đạo Ủy Ban Khoa Học, Không Gian, và Kỹ Thuật  Hạ Viện, vẫn tiếp tục cuộc thánh chiến chống lại các khoa học gia  của chính quyền — những vị dám tường trình sự thật.

Thông điệp thật rõ ràng. Công dân Hoa Kỳ đang phải đối mặt với một trách nhiệm khổng lồ ngay trong quốc nội.

Một câu chuyện song hành trong báo New York Times tường trình: “2/3 dân Mỹ hậu thuẩn Hoa Kỳ tham gia vào một thỏa ước quốc tế có hiệu lực pháp lý nhằm cắt giảm nhịp độ gia tăng khí thãi nhà kính.” Và với tỉ số 5/3, người Mỹ  đang xem khí hậu quan trọng hơn kinh tế. Nhưng điều đó cũng không mấy đáng kể vì công luận đã không được quan tâm. Một lần nữa, thực tế đã gửi đi một thông điệp mạnh mẽ cho người Mỹ. Cứu chữa hệ thống chính trị khập khiểng là nhiệm vụ của chính họ, trong đó ý kiến quần chúng chỉ là yếu tố bên lề hay biên tế.  Sự sai biệt giữa công luận và chính sách, trong trường hợp nầy, có những nội hàm đầy ý nghĩa cho số phận của thế giới.[5]

Đã hẳn, chúng ta cần tránh mọi ảo tưởng về một “thời đại vàng son” trong quá khứ. Tuy nhiên, thực tế diễn tiến vừa tái duyệt đang tạo ra những đổi thay có ý nghĩa. Sự phá hoại một nền dân chủ đang hoạt động hữu hiệu là một trong những tấn công của giới tân tự do đối với quần chúng thế giới thuộc thế hệ đi trước. Nhưng điều nầy không những đang diễn ra  ở Hoa Kỳ: ở Âu châu tác động còn có thể tệ hại hơn rất nhiều.[6]

VŨ KHÍ NGUYÊN TỬ

Đến đây, chúng ta thử quay qua nỗi âu lo cổ điển của các khoa học gia nguyên tử điều chỉnh Đồng Hồ Ngày Tận Thế:  vũ khí nguyên tử.  Đe dọa chiến tranh nguyên tử hiện nay  đã đủ  để biện minh quyết định của họ điều chỉnh kim đồng hồ tới hai phút trước nửa đêm trong tháng giêng 2015. Những gì đã xẩy ra từ đó tiết lộ sự đe dọa ngày một gia tăng rõ ràng hơn, một đề tài, theo Noam Chomsky, đã không đem lại một không khí  âu lo cân xứng.

Lần cuối Đồng Hồ Ngày Tận Thế đạt mức ba phút trước nửa đêm đã xẩy ra trong năm 1983, thời điểm các cuộc tập trận Able Archer của chính quyền Reagan:  những cuộc diễn tập tấn công vào Liên Bang Xô Viết để thẩm định các hệ thống phòng thũ của xứ nầy. Các văn thư lưu trữ của người Nga  được tiết lộ gần đây cho thấy, Liên Xô đã  rất âu lo về các cuộc diễn tập và đã chuẩn bị đáp ứng — đơn thuần đã  có nghĩa: Tận Thế.

Chúng ta đã học được nhiều hơn về những cuộc diễn tập cẩu thả và liều lĩnh, và về thế giới đã rất cận kề với thảm họa, theo nhà phân tích quân sự và tình báo Mỹ Melvin Goodman, người đứng đầu sư đoàn CIA và nhà phân tích cao cấp thuộc Sở Các Vấn Đề Xô Viết vào thời đó. Goodman viết: “Bên cạnh cuộc diễn tập Able Archer gây lo ngại ở Điện Cẩm Linh, chính quyền Reagan đã cho phép các cuộc diễn tập quân sự, tấn công một cách bất thường gần biên giới Xô Viết, và trong vài trường hợp, đã vi phạm chủ quyền lãnh thổ của Xô Viết. Các biện pháp nguy hiểm của Ngũ Giác Đài  bao gồm gửi các pháo đài bay chiến lược của Hoa Kỳ ngay trên không phận Bắc Cực để thử nghiệm khả năng “radar” của Xô Viết , và các cuộc diễn tập hải quân trong cách tiếp cận thời chiến đến Liên Bang Xô Viết,  nơi các tàu chiến Hoa Kỳ trước đó chưa bao giờ xâm nhập. Các cuộc hành quân bí mật phụ trội diễn tập các cuộc tấn công hải quân bất ngờ  vào các mục tiêu Xô Viết.”[7]

Ngày nay chúng ta biết được thế giới đã thoát  khỏi tai nạn tàn phá nguyên tử trong những ngày kinh hoàng đó nhờ ở quyết định của một quan chức Nga, Stanislav Petrov, đã không trình  lên cấp trên  báo cáo của các hệ thống khám phá tự động: Liên Bang Xô Viết đang bị tấn công bằng hỏa tiễn. Do đó, Petrov đã theo gương tư lệnh tiềm thủy đỉnh Vasili Arkhipov, người, vào thời khắc nguy kịch trong cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba năm 1962, đã từ chối cho phép phóng các ngư lôi nguyên tử  khi các tiềm thủy đỉnh đang bị tấn công bởi các diệt ngư lôi Hoa Kỳ thực thi lệnh cách ly.[8]

Những thí dụ tiết lộ khác gần đây hơn đã tăng thêm số nguy cơ vô cùng kinh hãi. Chuyên gia an ninh nguyên tử Bruce Blair trình báo: Hoa Kỳ vô tình đã xuýt quyết định  phóng vũ khí chiến lược bởi Tổng Thống, xẩy ra trong năm 1979, khi một băng nhựa huấn luyện báo động sớm NORAD mô tả một cuộc “tấn công toàn lực chiến lược,”  vô tình chạy xuyên qua hệ thống báo động sớm. Cố vấn an ninh quốc gia  Zbigniew Brzezinski đã hai lần bị đánh thức trong cùng một đêm và đã được báo cáo Hoa Kỳ đang bị tấn công, và ông ta vừa nhấc điện thoại thuyết phục Tổng Thống Carter  cần tức khắc cho phép một trả đũa toàn lực , khi một cú điện thoại thứ ba cho Brzezinski  biết:  đó là một báo động sai lầm.”

Ví dụ mới được tiết lộ nhắc lại một biến động nguy kịch năm 1995, khi lộ trình một tên lửa Hoa Kỳ-Na Uy mang các trang bị khoa học giống như lộ trình một tên lửa nguyên tử. Các âu lo gây ra cho người  Nga chóng vánh đến  tai Tổng Thống Boris Yeltsin, người phải quyết định cho phép  tấn công nguyên tử  ngay tức khắc và kịp thời .

Blair còn kể thêm vài ví dụ từ kinh nghiệm riêng của chính ông. Trong cuộc chiến Trung Đông năm 1967, “phi hành đoàn một phi cơ chở vũ khí nguyên tử nhận được một lệnh “tấn công thực sự” thay vì một lệnh “diễn tập nguyên tử.” Vài năm sau, vào đầu thập kỷ 1970s, Bộ Tư Lệnh Không Quân Chiến Lược ở Omaha “đã truyền lại một “lệnh diễn tập” …như “lệnh phóng nguyên tử thực sự.” Trong cả hai trường hợp, mật mã kiểm soát đã sai lầm; và sự can thiệp của con người  đã kịp thời ngăn chặn lệnh phóng vũ khí nguyên tử. Blair nói thêm, “nhưng chính bạn đã  lầm lẫn ở đây. Và không hiếm khi các loại hoang mang lẫn lộn như thế đã xẩy ra.”

Blair đã đưa ra những bình luận trên đây trong phản ứng đối với một phúc trình bởi John Bordne chỉ vừa  mới được làm sáng tỏ bởi Không Lực Hoa Kỳ.  Bordne đã từng phục vụ tại căn cứ quân sự Hoa Kỳ ở Okinawa trong tháng 10-1962, đúng vào thời Cuộc Khủng Hoảng Tên Lửa Cuba và cũng là lúc các căng thẳng nghiêm trọng đang diễn ra ở Á Châu.  Hệ thống báo động nguyên tử của Hoa Kỳ đã được nâng lên DEPCON 2, một nấc dưới DEPCON 1, khi các hỏa tiển nguyên tử có thể được phóng đi tức khắc. Vào đỉnh cao của cuộc khủng hoảng, ngày 28-10, một đội phụ trách hỏa tiển đã nhận được phép phóng các hỏa tiển nguyên tử, do sai lầm. Họ đã quyết định không thực thi, nhờ đó, đã có thể giúp tránh được chiến tranh nguyên tử, và cùng với Petrov và Arkhipov bước vào “pantheon các nhân vật đã quyết định bất tuân thượng lệnh hay lễ tân”, và nhờ đó,  đã cứu rỗi thế giới.

Như Blair đã nhận xét, các tình cờ như thế không phải hiếm hoi. Một nghiên cứu chuyên ngành gần đây đã tìm thấy hàng tá các báo động sai lầm mỗi năm trong suốt giai đoạn tái thẩm: 1977 đến 1983. Cuộc nghiên cứu đã kết luận con số thay đổi từ 43 đến 255 mỗi năm. Tác giả cuộc nghiên cứu, Seh Baum, tóm tắt với lời lẽ thích ứng: ” Chiến tranh nguyên tử là “thiên nga đen” chúng ta có thể không bao giớ thấy, trừ phi trong chốc lát ngắn ngũi khi nó giết chúng ta. Chúng ta trì hoãn nguy cơ với cái giá phải trả của riêng mình. Nay là lúc phải giải quyết đe dọa, bởi lẽ nay chúng ta còn  sống sót.”

Các phúc trình trên đây, giống như những phúc trình trong tác phẩm của Eric Schlosser “Chỉ Huy và Kiểm Soát,” chỉ hạn chế trong các hệ thống của Hoa Kỳ. Đã hẳn, người Nga phạm lỗi lầm nhiều  hơn. Đó là chưa nói đến nguy cơ tột cùng bởi các hệ thống của các xứ khác, nhất là  của Pakistan.

CHIẾN TRANH KHÔNG CÒN “KHÔNG THỂ TƯỞNG TƯỢNG”

Đôi khi sự đe dọa không do vô tình, mà vì chủ yếu muốn phiêu lưu, như trong trường hợp Able Archer. Trường hợp cực đoan nhất là Khủng Hoảng Tên Lửa Cuba năm 1962, khi đe dọa thảm họa  là thực sự. Phương cách giải quyết mang tính gây sốc ; vì  do phương cách thường được giải thích.

Với tinh thần âu lo ám ảnh, điều cần thiết là phải xét duyệt các thảo luận và hoạch định chiến lược. Một trường hợp ghê rợn là nghiên cứu STRATCOM trong kỷ nguyên Clinton 1995 — “Căn Bản của biện pháp Phòng Ngừa Thời Hậu Chiến Tranh Lạnh” [9].  Nghiên cứu kết luận “quyền tấn công trước” cần được duy trì, ngay cả trong nhiều trường hợp xung đột với các nhà nước phi nguyên tử. Bản nghiên cứu giải thích vũ khí nguyên tử luôn được sử dụng , trong ý nghĩa: đó là “loại vũ khí đe dọa trong mọi khủng hoảng hay xung đột.” Văn bản cũng luôn nhắc nhỡ “lãnh đạo quốc gia”:  thiếu duy lý và thũ thắng  luôn hiện diện khi đe dọa thế giới.

Chủ thuyết hiện hữu đang được xem xét trong một bài viết chủ chốt trong nhật báo “An Ninh Thế Giới,” một cơ quan có uy tín nhất trong địa hạt chủ thuyết chiến lược. Các tác giả giải thích,  Hoa Kỳ hiện cam kết:  “ưu tiên chiến lược” — có nghĩa, cách ly khỏi mọi “tấn công trả đủa”. Đó chính là lý do đưa đến ba mục tiêu mới  hàng đầu của Obama [tăng cường các tên lửa tiềm thủy đỉnh, trên bộ, và không lực], bên cạnh tên lửa quốc phòng, để chống trả một cuộc tấn công trả đũa. Âu lo của các tác giả là “nhu cầu ưu tiên chiến lược” có thể khiến Trung Quốc phản ứng: từ bỏ chính sách “không tấn công trước” và bành trướng các vũ khí ngăn ngừa hạn chế của mình. Các tác giả nghĩ chắc là không, nhưng viễn tượng vẫn không chắn chắn. Rõ ràng chủ thuyết đang làm gia tăng các nguy cơ trong một vùng tình hình luôn căng thẳng và có nhiều xung đột.

Tình hình cũng tương tự khi NATO bành trướng về phía đông,  vi phạm những lời hứa miệng với Mikhail Gorbachev khi Liên Bang Xô Viết sụp đỗ và Gorbachev đã đồng ý:  một Đức Quốc thống nhất có thể trở thành một thành viên NATO — một nhượng bộ đáng ghi nhớ khi ôn lại  lịch sử của thế kỷ. Bành trướng về Đông Đức đã lập tức  xẩy ra. Trong những năm kế tiếp, NATO đã bành trướng đến biên giới Nga; hiện cũng đang có nhiều đe dọa đáng kể khi sáp nhập Ukraine, trong trung tâm địa-chiến-lược của Nga. Chúng ta có thể tưởng tượng Hoa Kỳ có thể phản ứng như thế nào nếu  Thỏa Ước Warsaw vẫn còn hiện hữu, hầu hết Mỹ Latin đã gia nhập, và Mexico và Canada tỏ rõ ý muốn làm thành viên.

Ngoài ra, Nga cũng như Trung Quốc đều hiểu rõ [và các chiến lược  gia Hoa Kỳ cũng vậy]: các hệ thống tên lửa phòng thũ của Hoa Kỳ gần các biên giới của Nga, trong thực tế, là loại vũ khí tấn công trước, nhằm thiết lập ưu tiên chiến lược  — miễn nhiễm khỏi mọi trả đũa. Có lẽ, sứ mệnh của các hệ thống nầy hoàn toàn khó có thể được thể hiện, như vài chuyên gia lập luận. Nhưng các mục tiêu không bao giờ có thể an tâm. Và các phản ứng đề kháng của Nga hiễn nhiên được NATO giải thích như một đe dọa đối với Tây Phương.

Một học giả Ukraine gốc Anh đưa ra những gì ông ta gọi một “nghịch lý ‘địa lý tiền định’ ” :” NATO tồn tại để quản lý các bất trắc do  sự hiện hữu của chính mình tạo ra.”[10]

Các đe dọa hiện nay đang thực sự hiện hữu. Rất may, sự kiện một F-16 của Thỗ Nhĩ Kỳ bắn hạ một phi cơ Nga trong tháng 11-2015 đã không đưa đến một biến động quốc tế, nhưng đặc biệt trong hoàn cảnh lúc đó, vẫn rất có thể xẩy ra. Phi cơ đang có sứ mệnh dội bom Syria. Phi cơ cũng chỉ đang bay bên lề   lãnh thổ Thỗ Nhĩ  Kỳ bên trong Syria trong 17 giây, và rõ ràng đang hướng đến Syria –nơi phi cơ  bị rơi. Bắn hạ phi cơ rõ ràng đã là một hành động gây hấn nguy hiểm không cần thiết, và là một hành động với nhiều hậu quả.

Khi phản ứng, Nga đã loan báo phi cơ ném bom từ nay sẽ được các chiến đấu cơ phản lực tháp tùng và sẽ gửi các hệ thống hỏa tiễn chống phi cơ đến Syria. Bộ Trưởng Quốc Phòng Dergei Shoigu đã loan báo, Nga cũng đã ra lệnh cho tàu tuần dương Moskva trang bị với hệ thống phòng không tầm xa, dịch chuyển đến gần bờ, với mục đích có thể “sẵn sàng tiêu diệt các mục tiêu trên không có tiềm năng đe dọa phi cơ của Nga.”  Tất cả các điều đó đã chuẩn bị  sẵn vũ đài  cho những đối đầu có thể  gây thảm họa cho nhân loại.

Tình hình cũng  luôn hết sức căng thẳng dọc  biên giới NATO-Nga, kể cả  các động thái chuẩn bị quân sự của cả hai bên. Không lâu sau khi Đồng Hồ Ngày Tận Thế được điều chỉnh đến gần nửa đêm, báo chí các nước đã  đăng tãi: “Vào  Ngày  thứ tư, các xe chiến đấu quân sự của Mỹ đã diễn hành qua một thành phố Estonia bên trong Nga , một hành động tượng trưng nhấn mạnh các  chuẩn bị của cả hai bên trong tình hình căng thẳng tệ hại nhất giữa Tây Phương và Nga kể từ  Chiến Tranh Lạnh.” Trước đó không lâu, một phi cơ quân sự của Nga trong vòng ít giây suýt va chạm  với một phi cơ dân sự của Đan Mạch. Cả hai bên đang thực tập chuyển dịch và giàn trãi  nhanh chóng các lực lượng đến dọc biên giới Nga-NATO, và cả hai đều tin một cuộc chiến không còn là điều khó thể tưởng tượng.”[11]

VIỄN ẢNH SỐNG SÓT

Nếu đúng như vậy, cả hai phía đều quá điên khùng, vì một cuộc chiến có thể tiêu hũy mọi thứ. Trong nhiều thập kỷ, mọi người đều đã công nhận một cuộc tấn công trước bởi một đại cường có thể tiêu hũy ngay cả phe tấn công hay ngay cả khi không một tấn công trả đũa — chỉ đơn thuần do hậu quả của “mùa đông nguyên tử” [simply from the effects of nuclear winter].

Đó là thế giới ngày nay. Và cũng không phải chỉ là thế giới hôm nay.  Đó là những gì chúng ta đã từng chung sống trong 70 năm qua. Lý luận xuyên suốt rất dễ ghi nhận. Như chúng ta đã từng thấy, an ninh của quần chúng rõ ràng đã không hề là âu lo hàng đầu của các nhà làm chính sách. Điều nầy đã luôn trung thực từ những ngày đầu của kỷ nguyên  nguyên tử, khi  ngay bên trong các trung tâm hình thành chính sách đã không hề có một nỗ lực  — không cả một ý nghĩ  được bày tỏ  — nhằm loại bỏ chính đe dọa tiềm năng nghiêm chỉnh đối với Hoa Kỳ. Và cứ như thế, các vấn đề vẫn tiếp tục cho đến ngày nay, trong những phương cách đã được mô tả vắn tắt và rút từ thực tế .

Đó là thế giới chúng ta đã từng  sống, và đang chung sống hôm nay. Vũ khí nguyên tử đang là nguy cơ  bất biến đưa đến diệt vong tức khắc, nhưng ít ra trên nguyên tắc chúng ta  biết rõ bằng cách nào để  có thể tối thiểu hóa hay ngay cả loại bỏ nguy cơ, một nhiệm vụ đảm trách [và bỏ qua] bởi các cường quốc nguyên tử — những đại cường đã đặt bút ký vào Thỏa Ước Cấm-Phổ-Biến-Nguyên-Tử.

Nguy cơ hâm nóng toàn cầu không mang tính tức khắc, mặc dù  cũng vô cùng thảm khốc trong trường kỳ và có thể bất thần tăng tốc.  Chúng ta đã rõ ràng không hoàn toàn có đủ khả năng đối phó, nhưng không còn gì để nghi ngờ:  trì hoãn càng lâu, tai họa càng khắc nghiệt và cùng cực.

Khả năng thượng tồn lâu dài  không cao, trừ phi có một đổi hướng đáng kể.  Phần lớn trách nhiệm  trong  tay chúng ta ,  và cơ hội cũng thế.

 

Nguyễn Trường

Irvine, California, U.S.A.

22-7-2016

 

 

 

 

 

 

 

 

[1] The call condemned world leaders, who “have failed to act with the speed or on the scale required to protect citizens from potential catastrophe,” endangering “every person on Earth [by] failing to perform their most important duty — ensuring and preserving the health and vitality of human civilization.”

[2] The study showed that a huge Greenland glacier, Zachariae Isstrom, “broke loose from a glaciologically stable position in 2012 and entered a phase of accelerated retreat,” an unexpected and ominous development. The glacier “holds enough water to raise global sea level by more than 18 inches (46 centimeters) if it were to melt completely. And now it’s on a crash diet, losing 5 billion tons of mass every year. All that ice is crumbling into the North Atlantic Ocean.”

[3] “Traditionally, negotiators have sought to forge a legally binding treaty that needed ratification by the governments of the participating countries to have force. There is no way to get that in this case, because of the United States. A treaty would be dead on arrival on Capitol Hill without the required two-thirds majority vote in the Republican-controlled Senate. So the voluntary plans are taking the place of mandatory, top-down targets.” And voluntary plans are a guarantee of failure.

[4]  In the Senate, Mitch McConnell, the Republican leader, who has led the charge against Mr. Obama’s climate change agenda, said, ‘Before his international partners pop the champagne, they should remember that this is an unattainable deal based on a domestic energy plan that is likely illegal, that half the states have sued to halt, and that Congress has already voted to reject.

[5] A companion story in the New York Times reports that “two-thirds of Americans support the United States joining a binding international agreement to curb growth of greenhouse gas emissions.” And by a five-to-three margin, Americans regard the climate as more important than the economy. But it doesn’t matter. Public opinion is dismissed. That fact, once again, sends a strong message to Americans. It is their task to cure the dysfunctional political system, in which popular opinion is a marginal factor. The disparity between public opinion and policy, in this case, has significant implications for the fate of the world.

[6] We should, of course, have no illusions about a past “golden age.” Nevertheless, the developments just reviewed constitute significant changes. The undermining of functioning democracy is one of the contributions of the neoliberal assault on the world’s population in the past generation. And this is not happening just in the U.S.; in Europe the impact may be even worse.

[7] We have learned more about these rash and reckless exercises, and about how close the world was to disaster, from U.S. military and intelligence analyst Melvin Goodman, who was CIA division chief and senior analyst at the Office of Soviet Affairs at the time. “In addition to the Able Archer mobilization exercise that alarmed the Kremlin,” Goodman writes, “the Reagan administration authorized unusually aggressive military exercises near the Soviet border that, in some cases, violated Soviet territorial sovereignty. The Pentagon’s risky measures included sending U.S. strategic bombers over the North Pole to test Soviet radar, and naval exercises in wartime approaches to the USSR where U.S. warships had previously not entered. Additional secret operations simulated surprise naval attacks on Soviet targets.”

 

[8] We now know that the world was saved from likely nuclear destruction in those frightening days by the decision of a Russian officer, Stanislav Petrov, not to transmit to higher authorities the report of automated detection systems that the USSR was under missile attack. Accordingly, Petrov takes his place alongside Russian submarine commander Vasili Arkhipov, who, at a dangerous moment of the 1962 Cuban Missile Crisis, refused to authorize the launching of nuclear torpedoes when the subs were under attack by U.S. destroyers enforcing a quarantine.

[9] One chilling case is the Clinton-era 1995 STRATCOM study “Essentials of Post-Cold War Deterrence.”

[10] that NATO “exists to manage the risks created by its existence.”

[11] Shortly after the Doomsday Clock was moved ominously close to midnight, the national press reported that “U.S. military combat vehicles paraded Wednesday through an Estonian city that juts into Russia, a symbolic act that highlighted the stakes for both sides amid the worst tensions between the West and Russia since the Cold War.” Shortly before, a Russian warplane came within seconds of colliding with a Danish civilian airliner. Both sides are practicing rapid mobilization and redeployment of forces to the Russia-NATO border, and “both believe a war is no longer unthinkable.”

 

 

Advertisements