TỰ DO-DÂN CHỦ-NHÂN QUYỀN hay CHIẾN TRANH-ĐƠN PHƯƠNG-BIỆT LỆ

 

Hoa Kỳ hiện đang theo đuổi chiến tranh triền miên trên khắp thế giới với không một dấu hiệu chiến thắng bất cứ ở đâu: Iraq đang hỗn loạn và tan nát; Libya cũng vậy; và Syria hầu như không còn hiện hữu.

Sau 15 năm, “tiến bộ” ở Afghanistan đã bị đảo ngược trong khi các nỗ lực đẩy lùi các bước tiến gần đây của Taliban luôn liên tục khập khiểng. Nhà Nước Hồi Giáo  [Islamic State] có thể đang rệu rã, nhưng các phân bộ rời rạc vẫn luôn tìm mọi phương cách kinh tởm mới để tăng cường hàng ngũ và các cuộc tấn công. Sau khi đã phung phí hàng nghìn tỉ mỹ kim vào chiến tranh với kết quả bi đát, điều đáng ngạc nhiên khi các gương mặt then chốt trong giới quân sự hay các quan chức trong guồng máy an ninh quốc gia khổng lồ và tập đoàn quân sự-kỹ nghệ [military-industrial complex  hay “the Complex”] ở Hoa Kỳ đã không hề lên tiếng chỉ trích mạnh mẽ các tai họa tiếp diễn dưới quyền và trách nhiệm của chính mình.

Họ vẫn im lìm một cách kỳ lạ trước một thực tế quá rõ ràng. Một sự im lặng bao trùm không đơn thuần có thể quy trách nhiệm cho bản chất ham muốn chiến tranh của giới quân sự Hoa Kỳ. Đã hẳn, các chiến sĩ và chiến binh luôn tự xem sẵn sàng chiến đấu, nhưng ngay các quân nhân cũng không phải là người chọn lựa chiến tranh. Tình trạng cũng không thể quy trách duy nhất cho tham vọng uy quyền và doanh lợi của tập đoàn quân-sự-kỹ-nghệ, mặc dù các thành phần của “The Complex” không mấy hồ hỡi tìm cách cải tiến các quyết định cơ bản của các nhà nước dưới quyền. Để hiểu rõ sự im lặng đặc biệt của giới quân sự khi đối mặt với khủng hoảng hết sức rõ ràng, bạn cũng không nên giả thiết, từ quân nhân đến tướng lãnh, các thành viên đã không hề tỏ rõ cảm giác phức tạp luôn chỉ trích những gì đang diễn tiến. Câu hỏi thực sự là: Tại sao họ không bao giờ công khai nói ra?

Muốn  hiểu rõ sự im lặng có nghĩa đang nắm bắt được các lý do cá nhân, cảm tính, và định chế chồng chéo tại sao rất ít ai trong giới quân sự hay phần còn lại của guồng máy an ninh quốc gia có lúc lên tiếng chỉ trích các chính sách có thể đang gây bức xúc nơi họ và trong chỗ riêng tư, họ có thể bất bình. Ngay William J. Astore cũng phải đã hiểu rõ, vì lẽ cũng như rất nhiều người khác, trong binh nghiệp, Astore cũng đã phải tự gạt bỏ mọi cảm nghĩ bất đồng của chính mình.

“STAR WARS” VÀ WILLIAM J. ASTORE

Ngay từ khi còn là một trung tá không quân trẻ tuổi, William J. Astore cũng đã phải phục vụ trong một chương trình Astore không hề ưa thích: quân sự hóa không gian. Vào thời điểm đó, Không Quân đã lên lịch thử nghiệm một loại hỏa tiễn chống vệ tinh [an anti-satellite — ASAT] do một chiến đấu cơ phản lực F-15 phóng đi trên cao độ. Hỏa tiễn được thiết kế cho quỹ đạo thấp quanh địa cầu chống lại các vệ tinh của các quốc gia thù địch. Khối Xô Viết được biết đã có khả năng ASAT và đây chính  là đáp ứng của Hoa Kỳ. Nếu khối Xô Viết đã có sẵn khả năng, người Mỹ cũng phải có vũ khí tương đương hay tốt hơn. Hoa Kỳ gọi đó là biện pháp “ngăn chặn” hay “răn đe” [deterrence] của chính mình.

Ngay từ khi trẻ tuổi vừa dứt bỏ bệnh ghiền “Star Trek” xưa cũ, Astore cũng đã xem  không gian như “biên giới sau cùng” [the final frontier], một bình diện tốt hơn địa cầu luôn đầy dẫy xung đột, một nơi mọi chuyện, ngay cả hòa bình, đều có thể. Đối với Astore, điều sau cùng cần có là quân sự hóa biên giới nầy. Dù vậy, Astore vẫn đã phải làm việc tại Trung Tâm Giám Sát Không Gian [Space Surveillance Center] trong Cheyenne  Mountain để hổ trợ chương trình thử nghiệm, và nếu thành công, cũng đã có thể giúp biến không gian thành một khu vực chiến tranh mới khác.

Chẳng có gì đáng ngạc nhiên nếu bạn biết, mặc dù thù ghét, Astore đã không lên tiếng chống đối cuộc thử nghiệm. Astore chỉ giữ các tư tưởng chống đối và nghi ngờ cho riêng mình. Astore tự nghĩ mình không có nhiệm vụ, và không phải là người có trách nhiệm phán đoán các quyết định của cấp trên trong chính quyền của Tổng Thống đương nhiệm Ronald Reagan. Bạn không thể có một quân đội có đủ kỷ luật và trật tự nếu các quân nhân có quyền thách thức mọi vấn đề. Thực vậy, phải chăng mệnh lệnh cần phải được chấp hành. Quân nhân không có quyền hỏi tại sao; và bổn phận của quân nhân là thực thi hay chết — nhất là lúc đó người Mỹ đang trong tình trạng chiến tranh với người Xô Viết, dù chỉ dưới hình thức “chiến tranh lạnh”.

Vì vậy, Astore đã phải chôn vùi mọi nghi ngờ bất đồng của chính mình và tiếp tục góp phần chuẩn bị cuộc chiến tương lai trên quỷ đạo. Trong thực tế, Astore cũng nhớ rõ vẫn nuôi hy vọng cuộc thử nghiệm ASAT có thể diễn tiến tốt đẹp và chính mình cũng có thể được xem như đã làm nhiệm vụ một cách hữu hiệu. Và trong tâm thức đó, Astore tự nghĩ cá nhân mình có lẽ cũng đã là thành phần quân nhân khá mẫu mực, lúc đó và ngay cả bây giờ.

Chương trình F-15 ASAT cuối cùng cũng đã bị hủy bỏ, nhưng chỉ sau này khi nhìn kỷ lại và đã dạy cho Astore bài học: các ưu tiên của sứ mệnh và các nhu cầu quân sự trong  tình huống nhiều cấp bậc là những yếu tố hùng mạnh để dẹp bỏ mọi đạo đức,  luân lý, và tư duy trái ngược. Như vậy, mọi chuyện sẽ dễ dàng hơn, tự nhiên” hơn, khi chú tâm vào bổn phận phải làm theo lệnh trên hơn là cản trở  một hệ thống không để đón nhận công luận và các quan điểm trái ngược. Xét cho cùng, một “quân đội hoàn toàn tự nguyện, vì vậy, phải luôn tuân thũ, hay luôn rũ bỏ và không chấp nhận bất đồng quan điểm”, như đã dự liệu hay quan niệm từ đầu.

Đối với các tác giả các định chế tập quyền với nhiều cấp bậc, bài học sẽ không có gì đáng ngạc nhiên.

Chẳng hạn, những ai lớn lên trong Giáo hội Cơ Đốc hay đã chọn binh nghiệp, đều hiểu rõ các áp lực phải thích ứng với các định chế tương tự. Đó chính là trường hợp của William J. Astore. Theo Astore, trong Nhà Thờ, ít ra theo đại đa số các con chiên, bạn phải luôn nhớ “biết sợ Chúa là bắt đầu khôn ngoan”, và các hàng giáo phẩm luôn sẵn sàng khuyến khích hay un đúc tâm thức lo sợ đó.

Trong quân đội, giây phút huấn luyện cơ bản đầu tiên là khuyến khích “thái độ chấp hành” “giữ yên lặng”. Không ta thán hay than trách dù chỉ trong hàng ngũ các tân binh. Phải luôn: Vâng, thưa Ngài; hay Yes, sir; no, sir; no excuse, sir… Hợp tác và Tốt nghiệp. Tâm thức phục tùng đó khó lòng thách thức hay đổi thay, dù ở cấp bậc và địa vị nào.

Đã hẳn, luôn có một lý do chính đáng cho những điều vừa nói. Bạn không thể tập hợp một đàn mèo, cũng không thể biến chúng thành một đơn vị chặt chẽ. Trong  hoàn cảnh sinh tử, tuân thũ và kỷ luật luôn thiết yếu và hành động nhanh chóng.

Tuy nhiên, dù đó có thể là sự thật, Hoa Kỳ cũng vẫn không cần đến tuân thủ nhiều hơn, và người Mỹ rất cần các thành phần bất đồng quan điểm. Không những trong quần chúng và công dân mà ngay cả trong quân đội — có lẽ đặc biệt là trong hàng ngũ quân nhân.

Không may, theo chính lời của nguyên Bộ Trưởng Quốc Phòng và Giám Đốc CIA Leon Panetta trong Đại Hội Đảng Dân Chủ gần đây, trong kỷ nguyên hậu-9/11, người Mỹ đã quá ca tụng và tôn kính giới quân sự như “kho tàng vĩ đại của quốc gia”. Trong thực tế, giới quân sự đã trở nên thiết yếu đối với Hoa Thịnh Đốn đến độ các tổng tư lệnh tiềm năng như  Hillary Clinton [tướng John Allen] và Donald Trump [trung tướng Michael Flynn] luôn mong đợi các tướng lãnh hồi hưu ủng hộ họ như ứng cử viên hội đủ khả năng và kinh nghiệm.

Trong một ý nghĩa thực tế, Ngũ Giác Đài đã trở thành Nhà Thờ  Quốc Gia Chính Thống của Hoa Kỳ. Nếu người Mỹ tiếp tục tôn thờ hay luôn đi lễ ở  Nhà Thờ Quốc Gia Chính Thống, người Mỹ ít ra cũng cần đòi hỏi một mức độ chân thành tối thiểu nào đó từ hàng giáo phẩm. Trong một Hoa Kỳ quân sự hóa, vấn đề hiện nay là bằng cách nào khuyến khích một tâm thức chân thật từ các giáo sĩ và ngay cả giáo dân.

Chúng ta có thể gọi đó là một bất đồng quan điểm mang tính ái quốc. Với cụm từ “bất đồng quan điểm”, chúng ta muốn nói đến bàn luận chân thật từ những ai hiểu rõ những bất trắc và mê sảng của các cuộc chiến triền miên, các xung đột tàn khốc đã và đang tiếp diễn. Người Mỹ đang có nhu cầu cấp bách cần khuyến khích các thành phần bất đồng quan điểm và chính kiến bên trong quân ngũ và trong nội bộ “The Complex”, cần bày tỏ tâm thức theo phương cách giúp họ dịch chuyển ra khỏi lộ trình chiến tranh không dứt và triền miên…

Tuy vậy, muốn thực thi điều đó, người Mỹ phải hiểu rõ họ đang đối diện với rất nhiều trở lực.

Chẳng hạn, rõ ràng một chính quyền, được trang bị với Luật Do Thám hay Gián Điệp trong Đệ Nhất Thế Chiến — đã phát động một cuộc chiến chống lại các thành phần cẩn báo và kết án chung thân Chelsea Manning trong một trại tù an ninh tối đa —  khó thể bất thần khuyến khích công khai bày tỏ các tư duy bất đồng trong nội bộ khối an ninh quốc gia.

Nhưng vẫn còn nhiều trở ngại khác đối với mọi người trong chúng ta cũng cần được nghe chút  ít các câu chuyện bất đồng quan điểm và chính kiến từ “quyền thứ tư” trong chính quyền.

BẢY LÝ DO TẠI SAO KHÓ LÒNG BÀY TỎ CÁC BẤT ĐỒNG

Như một bắt đầu, thật khó lòng đối với một người bên ngoài có thể tưởng tượng tỏ rõ bất đồng khi bạn đang ở trong quân ngũ. Có rất nhiều áp lực phối hợp để dập tắt mọi bất đồng  — từ cảm nghĩ trung thành và ái quốc đến tâm thức và âu lo bị trừng phạt. Theo lời của William J. Astore, khi còn trong quân ngũ, bạn không được miễn nhiễm đối với các áp lực như thế, chính vì vậy câu chuyện của Astore là khá chuẩn xác. Astore cũng có những bất đồng đối với giới quân nhân, nhưng đã không nói ra mãi cho đến năm 2007, hai năm sau khi hưu trí.

Tại sao lại như thế? Astore có thể giải thích nhưng không phải tìm cách biện minh. Trừ phi bạn đã từng ở trong quân ngũ, bạn khó có được ý tưởng bằng cách nào đời sống trong quân ngũ mang tính bao che và chiếm hữu tất cả mọi thứ. Trong một phương cách kỳ lạ, đó có thể là “thứ gần gũi nhất với chủ nghĩa xã hội thực sự ở Hoa Kỳ”: chỗ ở ngay trong căn cứ đã cung cấp và buộc chặt bạn với cấp bậc của chính bạn, với các bác sĩ của chính quyền và y tế xã hội hóa cho mọi quân nhân, với giáo dục cho con em các bạn trong trường học tại căn cứ, và đi lễ nhà thờ cũng trong căn cứ.

Nói một cách khác, một đời sống mang tính ốc đảo, được tăng cường khi quân đội đồn trú tại các “Little Americas”ở hải ngoại [các căn cứ như Ramstein ở Đức]. Đối với giới hâm mộ “Star Trek: The Next Generation”, các bạn có thể nghĩ Ramstein và các căn cứ tương tự trên khắp thế giới như những nơi bạn tự động đồng hóa vào tập thể. Trong một đời sống tổ ong như vậy, đề kháng là hoàn toàn vô ích.

Tác động nầy chỉ được tăng cường bởi đặc tính chiến tranh bộ lạc: Dính kết với đơn vị; luôn được khuyến khích đạt đến cao độ chiến trận khi sứ mệnh [bảo vệ mạng sống cá nhân và đồng đội] trở thành quyết định; chăm chú vào tiêu điểm cuối họng súng AK-47 hiếm khi kịp tư duy hay phán đoán, và cũng là việc không nên…

Tuy vậy, ngay cả khi đã gạt qua một bên tính ốc đảo quân sự, trung thành với đơn vị, và áp lực của chiến trận, sau đây là bảy yếu tố phối hợp khác, Astore đã trải nghiệm và chứng kiến,  luôn ngăn chặn bất đồng tư duy trong nội bộ giới quân nhân.

(1) Địa vị và tham vọng: Quân đội Hoa Kỳ hiện nay không còn “các thành phần làm nghĩa vụ quân sự ương ngạnh” — và hầu hết là “tự nguyện.” Các thành phần “làm nghĩa vụ” trước đây đôi khi hoài nghi; nhưng số đông muốn lâm thời chịu đựng và đợi ngày giải ngũ. Các thành phần tự nguyện hiện nay thường với lòng tin; đa số chờ đợi được thăng tiến. Phê bình chỉ trích luôn có nghĩa khó được ưa chuộng và nâng đỡ. Quân đội nhà nghề nhanh chóng hiểu rõ:  thà yên lặng để được cải tiến thay vì lớn tiếng ngay thẳng để tự hại. Nếu nghi ngờ,  bạn có thể hỏi các tướng lãnh được ưa chuộng trong các cuộc chiến thất bại trước đây.

(2) Danh vọng tương lai và tham vọng: Phải làm gì sau khi rời quân ngũ? Việc làm dân sự thường khan hiếm. Nhiều cựu quân nhân hiểu rõ có nhiều khả năng được hưởng bổng lộc gấp đôi gấp ba, nếu nhận làm việc cho các nhà thầu quốc phòng trong các chức vụ tư vấn hay cố vấn ở hải ngoại. Tại sao phải đánh mất các triển vọng và lợi lộc tương lai, chỉ vì danh nghĩa bộc trực luôn đánh mất lý lịch an ninh cao giá đối với các xí nghiệp quốc phòng tìm kiếm ứng viên?

(3) Thiếu đa dạng: Quân đội Hoa Kỳ là một khuôn mẫu chọn lọc của một quốc gia đã sàn lọc sẵn các thành phần thiếu tin tưởng và phản loạn. Đã hẳn, đây là do thiết kế. Sau Chiến Tranh Việt Nam, bộ Tổng Tham Mưu quyết định sẽ không bao giờ cho phép một làn sóng bất đồng quan điểm hay thiếu thuần phục bên trong hàng ngũ quân đội, và đã thành công. Thử nghĩ xem: giữa “các chiến sĩ” và “công-dân-quân-nhân”, ai là người dễ bảo, dễ xử lý, và ai luôn giữ im lặng?

(4) Niềm tin bạn có thể đem lại thay đổi qua phương cách làm việc yên lặng từ bên trong hệ thống: Bạn có thể gọi đó là hiệu ứng Harold K. Johnson. Johnson là một tướng lãnh bộ binh trong Chiến Tranh Việt Nam, người đã có ý định từ chức để phản đối về những gì được xem như mục tiêu hay chính nghĩa đã bị đánh mất. Johnson đã quyết định ngược lại, ngẫm nghĩ có thể đem lai đổi thay tốt hơn trong khi vẫn mang bốn sao, một quyết định về sau ông đã vô cùng hối tiếc. Sự thật là hệ thống có nhiều phương cách thực nghiệm có thể trung hòa hóa các bất đồng nội bộ, chôn vùi, hay uốn nắn và biến đổi các bất đồng thành vô hại.

(5) Liên tục ổn định hóa giới quân nhân: Kể từ sau biến cố 9/11, nhiều chiêu bài ca tụng giới quân nhân bởi các tổng thống và chính trị gia rõ ràng nhằm ngăn chặn các nghi ngờ chân thật trong nội bộ giới quân nhân. Nếu tổng thống và Quốc Hội nghĩ các bạn là giới quân nhân tốt nhất từ trước đến nay, một lực lượng giải phóng nhân loại, tài nguyên quốc gia vĩ đại nhất, bạn là ai để bày tỏ bất đồng?

Nhưng nhiều người Hoa Kỳ thường nghĩ  khác. Các nhà lập quốc đã từng xem hàng ngũ quân nhân là một đe dọa có hại cho dân chủ. Trước Đệ Nhị Thế Chiến, nói chung,  họ đã từng chứng tỏ ưa thích chủ nghĩa cô lập hơn là chủ nghĩa đế quốc, mặc dù, trong thực tế, đa số rất hăng say giành đất của thổ dân và dân Mễ Tây Cơ trong khi lừa dối và phản bội người Cuba, người Phi Luật Tân, và các sắc dân khác khi nói đến nền độc lập của các sắc dân nầy.

Nếu nghi ngờ, bạn chỉ cần đọc “War is a Racket” của Smedley Butler, vị tướng Thủy Quân Lục Chiến trong những thập kỷ trước đây trong thế kỷ trước và hai lần đã được giải thưởng “Medal of Honor”.

Trong bối cảnh hiện nay, bạn nên nghĩ như thế nầy: các nền dân chủ nên xem hàng ngũ quân nhân như một tai họa cần thiết, và chi tiêu quân sự như một thứ thuế lũy thoái [regressive tax] đánh trên nền văn minh — như Tổng Thống Dwight D. Eisenhower đã từng làm khi so sánh các chi tiêu nầy với “nhân loại bị đóng đinh trên thập tự giá [bằng] sắt”.

Tuy vậy, luôn hoan hô và ca tụng quân đội Mỹ chỉ có thể đem lại hứng thú và thoải mái cho giới quân sự, nhưng không giúp giới quân nhân thấy được các thiếu sót sai lầm của mình, cũng không giúp người Mỹ như một quốc gia thấy lỗi lầm do chính quyền của họ.

(6)Thiếu tôn trọng đối với đồng đội: Bất đồng quan điểm luôn cô đơn. Chính vì vậy, các quân nhân bất đồng quan điểm thường không để lộ ý định của mình khi còn trong quân ngũ.

(7) Ngay cả khi đã rời quân ngũ, bạn cũng chẳng bao giờ hoàn toàn thoát khỏi đời sống quân nhân: Theo Astore, quân đội không bao giờ bỏ hẳn bạn lại phía sau. Bạn vẫn đứng nghiêm để chào cấp trên mỗi khi gặp lại, và luôn nhớ rõ lời tuyên thệ của một sĩ quan.

Tóm lại, chiến tranh triền miên là một đe dọa lớn lao đối với dân chủ ở Mỹ, vượt xa ISIS, Nga, hay bất cứ đe dọa từ bên ngoài nào khác bạn muốn nhắc đến. Một lần nữa, nguyên Tổng Thống Eisenhower, trong tư cách tư lệnh tối cao các Lực Lượng Đồng Minh trong Đệ Nhị Thế Chiến, đã học được một điều gì đó về bản chất thực sự của chiến tranh: “Chỉ Người Mỹ mới có thể làm tổn thương Nước Mỹ.”[1]

Quân đội và toàn bộ guồng máy an ninh quốc gia ngày một lớn mạnh chỉ nên hiện diện vì một mục đích duy nhất: bảo vệ xứ sở — có nghĩa, để bảo vệ Hiến Pháp và các quyền dân sự, các quyền tự do… Khi làm những điều đó, quân đôi và guồng máy  an ninh quốc gia đang làm bổn phận của mình, và xứng đáng được khen ngợi [nhưng không bao giờ nên quá sùng bái]. Khi không làm được những điều đó, guồng máy cần bị chỉ trích, cần được cải cách, ngay cả tái xây dựng từ số không [và trong phương cách khiêm tốn hơn, ít hống hách hơn, ít mang tính đế quốc hơn].

Nhưng quá trình nầy không thể bắt đầu chừng nào giới lãnh đạo Hoa Kỳ không ngừng gây chiến và người Mỹ tiếp tục gào thét “Amen!” mỗi khi Ngũ Giác Đài đòi hỏi thêm vũ khí và ngân sách chiến tranh.

Để hàn gắn và phát huy dân chủ, người Mỹ cần tăng cường tự do và un đúc liêm chính trong định chế người Mỹ cho biết họ tin cậy nhất: quân đội Hoa Kỳ. Mặc dù vài người có lẽ còn nghĩ:  khuyến khích bất đồng trong giới quân sự chỉ có thể làm suy giảm tinh thần chiến đấu và gây nguy hại cho an ninh quốc gia. Ngược lại, trong thực tếđịa-kinh tế-chính trị-thế giới hiện nay, quan điểm và tiếng nói bất đồng rất cần được khuyến khích và trân quý, nhằm bác bỏ chính ý niệm chiến tranh không dứt tai họa.

 

 

Nguyễn Trường

08-9-2016

Irvine, California, USA

 

 

 

 

 

 

[1]  “Only Americans can hurt America.”

Advertisements